Xem kết quả: / 13
Bình thườngTuyệt vời 

Câu 1

Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 là :

- Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những mục tiêu cụ thể của Chương trình CCHC là:

Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.

Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.

Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận.

Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.

Bộ máy của các Bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công.

Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn.

Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi). Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của chính quyền cấp xã.

Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.

Đến năm 2005, tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản, trở thành động lực của nền công vụ, bảo đảm cuộc sống của cán bộ, công chức và gia đình.

Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công.

Nền hành chính nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt. Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt. Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động.

Nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010

1. Cải cách thể chế

Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.

Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức

Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính

2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính

Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới

Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhiệm để khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.

Đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới về phân cấp trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương. Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ. Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến của trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của trung ương.

Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ

 

Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương

Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp

Thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính

3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức

Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức

4. Cải cách tài chính công

Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.

Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; quyền quyết định của các Bộ, Sở, Ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính sách.

Trên cơ sở phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính, xoá bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính, đổi mới hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động của cơ quan sử dụng ngân sách.

Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công Xây dựng quan niệm đúng về dịch vụ công. Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhận.

 

+ Xoá bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin - cho”, ban hành các cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều kiện như trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu v.v... trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và phần còn lại do các đơn vị tự trang trải.

Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới, như :

+ Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà trường, bệnh viện; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập;

+ Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa bệnh có chất lượng cao ở các thành phố, khu công nghiệp;

 

Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước, xóa bỏ tình trạng nhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công, tất cả các chỉ tiêu tài chính đều được công bố công khai.

Các giải pháp chủ yếu

1.Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành

Để thực hiện được Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 cần có quyết tâm chính trị của các cấp lãnh đạo cao của Đảng và Nhà nước, của những người đứng đầu các cơ quan hành chính các cấp.

2.Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị

Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 phải được tổ chức thực hiện đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó bộ máy hành pháp là công cụ quan trọng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.

3.Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ từ trung ương tới địa phương

Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính ở các ngành, các cấp; trước hết tập trung làm mạnh ở các Bộ, ngành trung ương, từ đó tạo tiền đề động viên, thúc đẩy cải cách hành chính của chính quyền địa phương.

Cần khắc phục sự thụ động, không khẩn trương của các Bộ, ngành trung ương trong việc sửa đổi những thể chế không còn phù hợp; trong việc phân cấp cho chính quyền địa phương.

4.Bố trí đủ nguồn tài chính và nhân lực

Để thực hiện được Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, cần phải huy động và bố trí đủ cán bộ có năng lực cho việc chuẩn bị và thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra.

Nâng cao năng lực nghiên cứu và chỉ đạo của các cơ quan có trách nhiệm giúp Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính.

Bố trí nguồn lực tài chính cần thiết từ ngân sách nhà nước để xây dựng và thực hiện các chương trình hành động cụ thể đã xác định.

5.Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền

Cải cách hành chính không chỉ là công việc riêng của hệ thống hành chính, mà là yêu cầu chung của toàn xã hội. Vì vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin để mọi cán bộ, công chức và người dân nhận thức đúng về cải cách bộ máy nhà nước và cải cách hành chính.

Cần có những biện pháp thiết thực để thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy hành chính.

Các giai đoạn thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010

Giai đoạn 1 (2001 - 2005) : nhiệm vụ trọng tâm là:

Xác định rành mạch chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính từ Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tới Ủy ban nhân dân các cấp;

Thực hiện xong về cơ bản việc phân cấp chức năng và thẩm quyền về quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương; giữa các cấp chính quyền địa phương;

Đổi mới cơ chế hoạt động và quản lý tài chính công đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp;

Thực hiện xong về cơ bản việc cải cách chế độ tiền lương cán bộ, công chức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.

Giai đoạn 2 (2006 - 2010) : Trên cơ sở các kết quả đã đạt được trong giai đoạn 1, tiếp tục điều chỉnh, hoàn chỉnh, làm cho bộ máy của Chính phủ và toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện được mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.

Khâu được lựa chọn là khâu đột phá trong cải cách hành chính là:

Cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá quan trọng nhưng cũng chỉ như cải cách phần ngọn. Để chuyển từ nền hành chính quản lý sang hành chính phục vụ chuyên nghiệp, cần thay đổi thói quen làm việc của nhân sự biên chế trong cơ quan hành chính; phân công, phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, rành mạch, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Và một giải pháp nằm trong tầm tay của các cơ quan dân cử là kiểm soát, giám sát chặt chẽ việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, để không tạo thêm các thủ tục hành chính bất hợp lý.

Vậy Con người là khâu quan trọng nhất, khâu đột phá trong cải cách hành chính. Muốn có một nền hành chính tiên tiến phải có con người công bộc chuyên nghiệp và trong sạch.

Câu 2:

1. Cải cách thể chế:

Kết quả chủ yếu đã đạt được:

a. Thể chế

- Tỉnh tăng cường công tác cải cách thể chế, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) theo thẩm quyền để thực hiện Nghị định, Thông tư của Chính Phủ và Bộ, ngành Trung ương hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật lao động, Luật Đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, các Luật Thuế, Luật Hải quan, Luật Thương mại, Luật Điện lực... Trên cơ sở đó, kịp thời khắc phục tình trạng thiếu thể chế điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong nhiều lĩnh vực, tạo sự an tâm và tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp như: thu hút đầu tư, thuế, đất đai, nhà ở, hải quan, giải phóng đền bù... Từ năm 2001 đến nay, tỉnh đã ban hành 800 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 58 văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý đầu tư xây dựng, gồm lĩnh vực xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở công sở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng kỹ thuật đô thị (hè đường đô thị, cấp nước thoát nước, chiếu sáng, công viên cây xanh, rác thải đô thị, nghĩa trang, bãi đỗ xe trong đô thị); 27 văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ; 10 văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng...

Thể chế hành chính trên địa bàn tỉnh được hoàn thiện, đổi mới theo Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Thanh tra, Luật Cán bộ, công chức, Nghị định số 171,172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh, Nghị định số 13,14/2008/NĐ-CP, ngày 04/02/2008 của Chính phủ, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Thể chế hành chính đã làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao sau khi chia tách, sáp nhập, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý, loại bỏ phần lớn chồng chéo và trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và bước đầu phân biệt rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức, tạo điều kiện cho hoạt động đánh giá cán bộ công chức.

- Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền trên địa bàn tỉnh cùng với các văn bản pháp quy của Chính phủ, Bộ ngành liên quan đã tạo được một hàng lang pháp lý tương đối đầy đủ và có nhiều nét mới có lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân. Cụ thể, Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trước đây từ 32% xuống còn 28% và năm 2009 đã giảm xuống chỉ còn 25%; về thuế thu nhập cao, nhiều người nộp thuế trước đây khi chuyển sang Luật thuế thu nhập cá nhân thì số thuế phải nộp ít hơn hoặc không phải nộp nếu có nhiều người phụ thuộc; thời gian làm thủ tục cho 1 bộ tờ khai xuất khẩu và nhập khẩu thuộc lĩnh vực Hải quan đã giảm đáng kể so với trước đây, thời gian trung bình cho 1 bộ tờ khai xuất khẩu luồng xanh là 5-10 phút, luồng vàng là 10-30 phút và luồng đỏ là 60-120 phút kể từ khi doanh nghiệp xuất trình hàng hóa để kiểm tra.

- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua năm 2004 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, góp phần khắc phục tình trạng tuỳ tiện trong việc soạn thảo và ban hành văn bản, đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan chính quyền nhà nước vào nề nếp nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế, tăng cường tính pháp quyền của nhà nước

Hàng năm, tỉnh ban hành và triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại các Sở, ngành, địa phương. Qua kiểm tra đã phát hiện và khắc phục  những tồn tại, hạn chế, nhằm đảm bảo cho công tác xây dựng, ban hành và kiểm tra, rà soát văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng văn bản QPPL được ban hành, loại bỏ kịp thời những văn bản hết hiệu lực, chồng chéo, gắn với việc bổ sung, sửa đổi các văn bản QPPL phù hợp với quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật của chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện tốt công tác tham mưu cấp thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo danh mục của Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm. Tỉnh chỉ đạo tập trung soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước để giải quyết yêu cầu của người dân và doanh nghiệp như:

Sở Nội vụ xây dựng Quy định liên thông về trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn;

Ban quản lý các khu công nghiệp xây dựng Quy chế phối hợp giữa Ban và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh;

Sở Ngoại vụ xây dựng Quy chế thống nhất quản lý các hoạt động  đối ngoại trên địa bàn tỉnh;

Sở Xây dựng soạn thảo Quy định về phân cấp quản lý, sử dụng và đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị ;

Sở Công Thương xây dựng Quy chế trách nhiệm trong quản lý, cơ chế phối hợp trong công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp...

UBND các huyện, thị xã, thành phố đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nội dung tập trung vào việc chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh ở địa phương. Các Nghị quyết, quyết định, chỉ thị, kế hoạch, phương án, đề án đã được các ngành chức năng xây dựng đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền, thời gian ban hành; nội dung được dựa trên các văn bản quy định hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời xem xét, đánh giá đưa ra các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn của địa phương.

- Tỉnh tiến hành 16 đợt rà soát văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND tỉnh ban hành. Kết quả đã rà soát 39.356 văn bản, trong đó có 2.246 văn bản quy phạm pháp luật đã được nghiên cứu, đánh giá...Qua đó, HĐND,UBND tỉnh đã công bố hết hiệu lực và bãi bỏ 630 văn bản, gồm : 56 Nghị quyết của HĐND và 574 văn bản của UBND, trong đó có hàng trăm văn bản có liên quan đến thủ tục hành chính, đồng thời sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đối với hàng chục văn bản khác; in hơn 3.000 tập “Văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của UBND tỉnh” và gần 2.000 đĩa CD Rom “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh” để cấp phát cho các Sở, ngành, địa phương trong tỉnh làm cơ sở triển khai thực hiệm nhiệm vụ được giao.

b. Đơn giản hóa thủ tục hành chính:

Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Tổ công tác chuyên trách Thủ tướng Chính phủ, tỉnh nghiêm túc và tích cực triển khai giai đoạn thống kê thủ tục hành chính. Giám đốc các Sở, ban, ngành; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn đã tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm như: tổ chức nghiên cứu, phổ biến, quán triệt nội dung Đề án 30, các văn bản có liên quan của Trung ương và tỉnh đến toàn thể cán bộ công chức thuộc phạm vi quản lý, nhất là đối với các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thống kê, rà soát thủ tục hành chính; trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Đề án 30, bố trí cán bộ, công chức có năng lực, trình độ, am hiểu về thủ tục hành chính chịu trách nhiệm chính làm đầu mối thực hiện Đề án 30 tại cơ quan, đơn vị, địa phương theo hướng dẫn của Tổ công tác thực hiện Đề án 30 của tỉnh, đăng ký danh sách với tổ công tác của tỉnh và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Đề án 30 ở cơ quan, đơn vị, địa phương mình; chỉ đạo cán bộ, công chức được cử làm đầu mối chịu trách nhiệm tham mưu và tổ chức thực hiện tốt việc phối hợp, tổ chức thống kê, rà soát các thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính theo hướng dẫn của Tổ công tác thực hiện Đề án 30 tỉnh đảm bảo chất lượng và đúng thời gian theo kế hoạch của tỉnh đề ra.

Kết quả giai đoạn 1, tỉnh đã công bố Bộ thủ tục hành chính 3 cấp: tỉnh, huyện, xã vào ngày 20/8/2009; theo đó, Bộ danh mục  thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết các Sở, ban, ngành có 960 TTHC; Bộ danh mục thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp huyện có 226 TTHC và Bộ danh mục  thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp xã có 141 TTHC. Qua quá trình rà soát thống kê đã loại bỏ những TTHC trùng lắp và tự đặt ra thuộc lĩnh vực giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với cá nhân, tổ chức liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân; trong đó: cấp Sở, ban, ngành có 44/960 TTHC chiếm 4,5%, cấp huyện 10/236 chiếm 4,2%, cấp xã 75/216 chiếm 34,7%.

Bước vào giai đoạn 2, tỉnh chỉ đạo quyết liệt tập trung triển khai công tác rà soát thủ tục hành chính; tổ chức tập huấn hướng dẫn cho các Sở, ban, ngành, UBND huyện, xã chọn điểm về phương thức rà soát các thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính nhằm đảm bảo chất lượng và đúng thời gian theo kế hoạch của tỉnh đề ra. Trong quá trình tổ chức thực hiện, Tổ công tác tỉnh tiến hành kiểm tra công tác rà soát thủ tục hành chính tại 22 đơn vị, tổng hợp sơ bộ số lượng thủ tục hành chính, số lượng mẫu đơn, mẫu tờ khai (biểu mẫu 2a), số lượng yêu cầu, điều kiện (biểu mẫu 2b) được rà soát của các Sở, ban, ngành, huyện, xã chọn điểm; trên cơ sở đó kịp thời hướng dẫn, chấn chỉnh tình hình triển khai công tác rà soát thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị thực hiện chưa đúng theo yêu cầu đề ra, định hướng xây dựng phương án kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ thủ tục hành chính đảm bảo đơn giản hóa tối thiểu 30% những quy định về thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn 2, tỉnh đã tiến hành rà soát 1.377 thủ tục hành chính hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các Sở, ngành và của UBND cấp huyện, cấp xã; trong đó, tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, người dân và doanh nghiệp đối với 239 thủ tục hành chính thuộc 14 lĩnh vực phức tạp, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp bằng các hình thức như: thông qua các cuộc hội thảo tham vấn, bằng văn bản, qua các kênh thông tin và tổ chức rà soát độc lập thủ tục hành chính… Tỉnh đã thông qua phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính, trong đó kiến nghị giữ nguyên 494 thủ tục (chiếm 35,87%), có 812 thủ tục kiến nghị thay thế, bãi bỏ (đạt 64,12% trên tổng số thủ tục hành chính của tỉnh có kiến nghị đơn giản hóa các quy định về thủ tục hành chính) đảm bảo vượt chỉ tiêu của Thủ tướng Chính phủ giao đơn giản hóa tối thiểu 30% các quy định về thủ tục hành chính và ban hành các Quyết định thực thi Phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính do tỉnh quy định, được Trung ương đánh giá cao là 1 trong 10 đơn vị trên 63 tỉnh, thành triển khai thực hiện tốt Đề án 30 của Thủ tướng Chính phủ. Tỉnh đang triển khai giai đoạn 3 thực thi các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.

c. Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông:

Thực hiện giai đoạn 1 của Dự án cải cách hành chính tỉnh Đắk Lắk do Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch tài trợ, tỉnh đã chọn UBND huyện Ea Kar, UBND huyện Krông  Pắc, UBND thành phố Buôn Ma Thuột và Sở Địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường) thí điểm Tiểu dự án thực hiện Cải cách hành chính theo mô hình một cửa trong cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị tại thành phố Buôn Ma Thuột theo Quyết định số 3191/QĐ-UB ngày 20/11/2000 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án Cải cách hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND thành phố Buôn Ma Thuột; Quyết định số 3192/QĐ-UB ngày 20/11/2000 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND huyện Krông Pắc; Quyết định số 992/QĐ-UB ngày 10/4/2001 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND huyện EaKar;

Trên cơ sở thành quả và bài học kinh nghiệm của giai đoạn 1, sau khi Tiểu dự án kết thúc vào tháng 10/2001, các cơ quan, đơn vị tiếp tục duy trì thực hiện cải cách hành chính theo mô hình một cửa cho đến khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003, về quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Tỉnh ban hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện cơ chế hành chính “một cửa”, chọn một số lĩnh vực thủ tục hành chính đang thực hiện tại UBND cấp huyện, thành phố và UBND cấp xã, phường, thị trấn; tài liệu được biên soạn lưu hành nội bộ dựa trên những chủ trương của Chính phủ và quy định về thủ tục hành chính hiện hành, tài liệu này giúp cho cán bộ, công chức tại bộ phận “một cửa” làm căn cứ tác nghiệp giải quyết các thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức trong thực thi công vụ; phê duyệt 14  Đề án Cải cách hành chính theo mô hình “một cửa” tại 11 UBND huyện và  03 Sở, bao gồm: UBND huyện EaH’leo, UBND huyện Lắk, UBND huyện Krông Búk, UBND huyện Buôn Đôn, UBND huyện Krông Bông, UBND huyện Ea Súp, UBND huyện Krông Ana, UBND huyện Cư M’Gar, UBND huyện M’Drắk, UBND huyện Krông Năng, Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, nâng tổng số cơ quan thực hiện cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh là 18 đơn vị, địa phương, đồng thời, 14/14 huyện, thành phố nhân rộng mô hình “một cửa” đến các xã, phường, thị trấn trên địa bàn. Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thông và 14/14 huyện, thành phố và một số xã được chọn thí điểm hình thành bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, bố trí phòng làm việc, đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, mua sắm trang thiết bị cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, bước đầu thay đổi phương thức hoạt động hành chính trên cơ sở tách bạch giữa khâu tiếp nhận hồ sơ và khâu giải quyết, xử lý hồ sơ, tạo ra một cơ chế chủ động phối hợp dọc (giữa các cấp) và phối hợp ngang (giữa các ngành) một cách hiệu quả hơn trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước.

Ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (gọi tắt là Quyết định 93 thay cho Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đó, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 3360/KH-UBND ngày 11/9/2007 về việc thực hiện Quyết định 93 của Thủ tướng Chính phủ; phê duyệt đề án cải cách hành chính theo cơ chế một cửa trong việc cung cấp dịch vụ công tại 11 Sở và Ban quản lý các khu công nghiệp thuộc tỉnh.

Đến nay, có 20/27 cơ quan cấp tỉnh (8 đơn vị ngành dọc) được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa”, trong đó có 15 Sở, 01 Ban và 4 đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh; gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch; Sở Tư pháp, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế, Sở Công thương, Sở Nội vụ, Ban quản lý các khu công nghiệp, Công an tỉnh, Cục thuế tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Kho bạc nhà nước tỉnh.  15/15 huyện, thành phố, thị xã và 184/184 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo quy định thống nhất về lĩnh vực, trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND huyện, thị xã, thành phố và tại UBND xã, phường, thị trấn, đạt 100%. Theo đó, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng UBND cấp huyện thực hiện 88 thủ tục hành chính gồm 8 lĩnh vực: đăng ký kinh doanh, đất đai, quản lý đô thị, đầu tư xây dựng, hộ tịch, chứng thực, Lao động Thương binh và Xã hội, giáo dục đào tạo; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND cấp xã thực hiện 79 thủ tục hành chính với 5 lĩnh vực: hộ tịch, chứng thực, đất đai, xây dựng, Lao động Thương binh và Xã hội.

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các cấp được bố trí 02-03 cán bộ chuyên trách trong biên chế; có trình độ từ cao đẳng trở lên, am hiểu pháp luật có liên quan đến các hoạt động của đơn vị, có tuổi đời trẻ, có ngoại hình khá. Các đơn vị công khai quy trình giải quyết thủ tục hành chính, số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ, biểu thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước để nhân dân giám sát các hoạt động giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan hành chính nhà nước và của cán bộ, công chức tiếp nhận. Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở cấp tỉnh, UBND cấp huyện và xã, phường, thị trấn hưởng phụ cấp 200.000đồng/người/tháng theo quy định tại Nghị quyết số 12/2008/NQ-HĐND ngày 11/7/2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VII, kỳ họp thứ 10 và được hưởng các chế độ khác theo quy định của Nhà nước hiện hành. Cán bộ tại bộ phận một cửa mặc trang phục theo quy định là áo sơ mi trắng có in logo Chung tay cải cách thủ tục hành chính bên tay áo; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thống nhất về mẫu, biểu để thuận tiện cho công tác quản lý, điều hành và tổng hợp báo cáo; hệ thống mẫu biểu mẫu bao gồm 10 mẫu: phiếu hướng dẫn, giấy biên nhận, Phiếu giao - nhận hồ sơ, Phiếu đôn đốc giải quyết hồ sơ, Phiếu trả kết quả, Sổ theo dõi giải quyết hồ sơ của công dân, tổ chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, bảng niêm yết thủ tục hành chính cấp huyện và cấp xã, mẫu báo cáo nhanh hàng tháng, mẫu tổng hợp của UBND cấp huyện; các cơ quan, đơn vị đã triển khai thực hiện tốt các quy định thống nhất trên theo hướng dẫn của Sở Nội vụ.

Hầu hết các đơn vị, địa phương đã xác lập mối quan hệ phối hợp khoa học, hợp lý trong giải quyết công việc giữa các phòng ban chuyên môn, thường xuyên soát xét lại hệ thống trang thiết bị và cơ sở vật chất, đánh giá năng lực giao tiếp của cán bộ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo quy tắc ứng xử văn hóa nơi công sở theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg, tổ chức làm việc vào ngày thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính và rà soát, điều chỉnh các Quy chế để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ trong việc thực hiện công tác cải cách hành chính, hạn chế tối đa tình trạng tiêu cực, nhũng nhiễu gây mất thời gian của tổ chức, công dân đến liên hệ giải quyết công việc, tăng cường chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Một số đơn vị đã ứng dụng phần mềm trong việc tiếp nhận hồ sơ, thủ tục hành chính và mẫu hóa các loại phiếu theo đặc thù riêng của đơn vị nhưng vẫn đảm bảo các nội dung theo hướng dẫn để theo dõi, kiểm tra và tổng hợp như UBND thành phố Buôn Ma Thuột, Sở Giáo dục và Đào tạo. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Tư pháp niêm yết công khai quy trình Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thẩm định dự án và cấp giấy chứng nhận đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, cấp phép hoạt động tài nguyên nước, cấp phép hoạt động đo đạc bản đồ, cấp phép xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan, đơn vị đã áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong giải quyết dịch vụ hành chính công, tăng cường công tác phối hợp nội bộ giữa bộ phận một cửa và các phòng chuyên môn, từng bước nâng cao chất lượng xử lý, giải quyết các công việc cho tổ chức, công dân đem lại sự hài lòng cho công dân, tổ chức khi đến giao dịch với cơ quan nhà nước. Các đơn vị có sự điều chỉnh, đổi mới và áp dụng công nghệ thông tin, hệ thống quản lý chất lượng nên đã rút ngắn quy trình, thời gian giải quyết công việc như: Sở Khoa học và Công nghệ, rút ngắn thời gian cấp phép hoạt động cho các cơ sở bức xạ từ 65 ngày xuống còn 30 ngày, bổ sung hồ sơ xin cấp phép không quá 2 lần so với 4 lần trước đây; Sở Tài chính, triển khai thực hiện một số thủ tục như: xác định đơn giá, thẩm định đầu tư - dự toán, thẩm tra phương án từ 10 ngày xuống còn 7 ngày; Cục Hải quan tỉnh thực hiện thông quan khai báo từ xa thông qua mạng điện tử (hồ sơ điện tử); Công an tỉnh bố trí 4 tổ làm chứng minh nhân dân lưu động đi xuống các huyện, xã để làm và trả chứng minh nhân dân (CMND), đến tận nhà một số người dân có hoàn cảnh khó khăn để thực hiện thủ tục này. Thời gian cấp phát CMND rút ngắn từ 15 ngày xuống còn 7 ngày; đăng ký con dấu 3/7 ngày; cấp hộ chiếu của nhân dân thuộc phần việc của địa phương 2/3 ngày; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung thị thực, chứng thực tạm trú đối với người nước ngoài 3/10 ngày... Các Sở, ngành khác cũng đã thực hiện tốt việc rút ngắn thời gian quy trình giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý như: Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Công thương ....

Triển khai thực hiện Quyết định số 42/2008/QĐ-UBND ngày 24/11/2008 của UBND tỉnh, về việc ban hành Quy chế phối hợp giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký dấu đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp từ ngày 02/01/2009, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng với Cục Thuế tỉnh, Công an tỉnh đã tiến hành tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký của doanh nghiệp theo quy trình liên thông. Qua theo dõi hơn 2 năm như sau:

- Tổng số hồ sơ đã nhận:                     7.809  hồ sơ

- Tổng số hồ sơ đã giải quyết:             7.724  hồ sơ

Trong đó: + Hồ sơ đúng hẹn:            7.721 hồ sơ

+ Hồ sơ trễ hẹn:             03  hồ sơ (do xin ý kiến của UBND tỉnh về người nước ngoài đầu tư tại tỉnh).

-         Tổng số hồ sơ tồn đến ngày 08/5/2010:  31 hồ sơ

Đây là mô hình cải cách thủ tục hành chính liên thông theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch, giảm thiểu các giấy phép “con” và thời gian đi lại của tổ chức, cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho công dân và doanh nghiệp khi có nhu cầu đăng ký kinh doanh (ĐKKD); thời gian giải quyết hồ sơ ĐKKD giảm từ 7 ngày xuống còn 5 ngày, doanh nghiệp không phải làm thủ tục đăng ký thuế tại cơ quan thuế, không phải trực tiếp làm thủ tục đăng ký dấu tại cơ quan Công an (chỉ đến nhận dấu và Giấy chứng nhận mẫu dấu tại cơ quan Công an theo thời gian hẹn của cơ sở khắc dấu), thời gian khắc dấu, đăng ký dấu rút ngắn còn tối đa 04 ngày; một số vướng mắc, sai sót trong quá trình thực hiện liên thông được các cơ quan có liên quan phối hợp giải quyết kịp thời, nhanh chóng. Đồng thời, các doanh nghiệp có thể gửi hồ sơ đăng ký tới phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư qua mạng điện tử (Website: http://www.daklakdpi.gov.vn), phòng Đăng ký kinh doanh sẽ thông báo và hướng dẫn sửa đổi, bổ sung (nếu có) cho người thành lập doanh nghiệp qua mạng điện tử.

Tuy nhiên, còn một số tồn tại: do thời gian rút ngắn chỉ còn 05 ngày, cán bộ trực tiếp xử lý hồ sơ phải làm việc ngoài giờ để đảm bảo thời gian theo quy định; việc giao, nhận hồ sơ giữa Tổ 1 cửa của Sở KH&ĐT và Cục Thuế tỉnh phải thực hiện thường xuyên hàng ngày (vào lúc 16h 30) nên thời gian người trực tiếp giao, nhận hồ sơ và chi phí (xăng xe) tăng thêm; Cục Thuế tỉnh cấp sai mã số cho 1 số DN, dẫn đến phòng ĐKKD phải xử lý lại, doanh nghiệp phải tốn kém thời gian, tiền bạc trong việc làm lại con dấu; trường hợp người kinh doanh đã có mã số thuế trước khi thành lập DN, Sở KH&ĐT nhận hồ sơ ĐKKD và chuyển đến Cục Thuế để cấp mã số doanh nghiệp, thời gian cấp mã số DN phải phụ thuộc vào việc Chi Cục thuế quản lý thuế trực tiếp xử lý đóng mã số thuế cũ.

Cục thuế tỉnh đã phối hợp với Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện liên thông về việc xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai như tiền thuê đất; thu tiền sử dụng đất (thuế TNCN, lệ phí trước bạ).

Sở Lao động Thương binh và Xã hội đang tổ chức lấy ý kiến quy trình giải quyết hồ sơ trong lĩnh vực chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo cơ chế một cửa liên thông.

Theo đánh giá từ phía cơ quan nhà nước việc áp dụng cải cách hành chính theo cơ chế một cửa đã tạo ra sự thống nhất trong hệ thống hành chính; nâng cao nhận thức cho cán bộ lãnh đạo, công chức trong quá trình giải quyết các yêu cầu của tổ chức và công dân, góp phần thay đổi hoạt động cụ thể của cơ quan hành chính từ thụ động sang chủ động phục vụ, đem lại sự hài lòng cho công dân, tổ chức. Tuy nhiên, đánh giá từ phía nội bộ cơ quan  nhà nước là chưa đủ, một kênh thông tin thiết thực từ người dân, doanh nghiệp là cần thiết để kiểm soát, đánh giá những nổ lực của các cơ quan hành chính nhà nước. Chính vì vậy, tỉnh đã tổ chức cuộc khảo sát độc lập lấy ý kiến của công dân về dịch vụ một cửa nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm từ mô hình dịch vụ một cửa, đưa ra những ý kiến sâu sát nhất về hiệu quả của mô hình dịch vụ một cửa và gợi ý cho các hỗ trợ tiếp theo ở khu vực dịch vụ công để nhân rộng mô hình trong những năm tiếp theo. Kết quả là, hầu hết công dân hài lòng với dịch vụ một cửa về thời gian giải quyết hồ sơ, thái độ phục vụ và năng lực xử lý của cán bộ làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; các cơ quan, đơn vị đã nâng cao chất lượng xử lý, giải quyết các công việc cho tổ chức, công dân; thủ tục, quy trình giải quyết hồ sơ hành chính được đơn giản, công khai hoá đúng pháp luật; trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính chuyển biến mạnh mẽ,  nâng cao lòng tin người dân và doanh nghiệp với cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Báo cáo kết quả điều tra ý kiến công dân về hiệu quả dịch vụ một cửa tại 14 huyện, thành phố của tỉnh cho thấy số ý kiến ở mức khá hài lòng và rất hài lòng chiếm khoảng 75%-80%.

Chi tiết Nhận xét tổng thể về chất lượng của dịch vụ một cửa cấp huyện

 

Thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã đạt được những kết quả, giúp cho công dân, tổ chức hiểu rõ được các trình tự, thủ tục hành chính khi có nhu cầu giao dịch hành chính công với các cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế tồn tại cần quan tâm tháo gỡ trong thời gian tới:

2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính:

Kết quả chủ yếu đã đạt được:

- Năm 2001, thực hiện Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), UBND tỉnh đã thực hiện việc kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và cấp huyện. Trên cơ sở sắp xếp tổ chức bộ máy gọn nhẹ theo nguyên tắc Sở, ngành quản lý đa ngành, đa lĩnh vực và giảm bớt đầu mối, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh được sắp xếp từ 23 cơ quan còn 22 cơ quan; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các huyện, thành phố từ 13 phòng, ban chuyên môn (đối với các huyện) và 14 phòng, ban chuyên môn đối với thành phố còn 10 phòng, ban chuyên môn. Hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, giảm bớt chồng chéo trong quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, nông lâm nghiệp, dân số- gia đình- trẻ em.

Năm 2008, thực hiện Nghị định số 13, 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; UBND tỉnh đã thực hiện sắp xếp tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh gồm 19 Sở, ban, ngành và tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, thị xã, thành phố gồm 13 phòng, ban. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy thuộc UBND tỉnh theo Nghị định 13/2004/NĐ-CP dựa trên cơ sở sáp nhập một số lĩnh vực từ cơ quan này sang cơ quan khác và giải thể một số cơ quan, đơn vị nhằm giảm số lượng cơ quan chuyên môn, giúp bộ máy tinh gọn hơn.

Việc thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ; số liệu tổng hợp đến tháng 6/2010 của toàn tỉnh  giảm được 609 người, trong đó: năm 2007 là 03 người, năm 2008 là 256 người, năm 2009 là 212 người, tháng 6/2010 là 138 người, tỉnh đang đề nghị cho đợt xét tháng 12/2010 là 212 người.

- Nhìn chung, đến nay bộ máy tổ chức trên địa bàn tỉnh đáp ứng được yêu cầu của cơ chế quản lý mới. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh từng bước được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường, cơ cấu tổ chức bộ máy được điều chỉnh hợp lý, quy định cụ thể hơn nhằm giúp các cơ quan, địa phương thực hiện thuận lợi nhiệm vụ được giao. Từ đó bộ máy hành chính các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được kiện toàn theo nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về hiệu quả công việc; phát huy tốt chức năng tham mưu về thể chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra và đôn đốc thực hiện. Tổ chức bộ máy cấp huyện, cấp xã cũng được tập trung củng cố, kiện toàn nhằm nâng cao năng lực hoạt động các phòng, bộ phận chuyên môn trực thuộc; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn của từng cán bộ quản lý; đảm bảo tính thông suốt, đồng bộ, phát huy vai trò từng cá nhân, tổ chức chủ động, sáng tạo trong thực thi công vụ; khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm thực hiện tốt công tác cải cách hành chính tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

- Từ năm 2001, tỉnh đã triển khai Đề án phân cấp quản lý về nhân sự trong bộ máy chính quyền địa phương và quản lý nhà nước trên lĩnh vực đầu tư, xây dựng, đất, đất rừng, quản lý y tế, giáo dục ở một số đơn vị cấp tỉnh và cấp huyện nhằm tăng cường tính chủ động cho các đơn vị trong hoạt động quản lý và tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Sở, ngành cấp tỉnh. Một số cơ quan được chọn thí điểm như Cục thuế,  Sở Tài chính, Sở  Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, các đơn vị thực hiện mô hình một cửa. Tăng cường phân cấp quản lý cho cấp huyện, cấp xã đối với lĩnh vực cấp huyện, cấp xã đủ điều kiện, năng lực quản lý nhằm phát huy vai trò của UBND các cấp trong quản lý đời sống xã hội, khắc phục tình trạng  cấp trên làm thay nhiệm vụ, quyền hạn của cấp dưới và cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy nhiệm vụ cho cấp trên. Tỉnh thực hiện phân cấp đến cấp huyện và cấp xã đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản về nguồn thu và nhiệm vụ chi, cấp giấy phép xây dựng, chứng nhận quyền sử dụng đất, tổ chức quản lý cán bộ, công chức...

Kết quả cho thấy, các cơ quan đã thiết lập phương pháp hoạt động mới trên cơ sở phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền và mối quan hệ phối hợp. Hoạt động phân công, phân cấp bước đầu đã hình thành nhận thức một cách đầy đủ hơn trong chính quyền địa phương về sự phân biệt giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng sự nghiệp cung ứng dịch vụ hành chính công cho xã hội.

3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Kết quả chủ yếu đã đạt được:

- Thực hiện các Nghị định, Thông tư của Chính phủ về quản lý tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, tỉnh đã ban hành Quyết định số 10/2006/QĐ-UBND ngày 14/3/2006, quy định về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh, phân định rõ ràng về trách nhiệm, thẩm quyền quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, xác định những yêu cầu, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất, cơ chế quản lý và chế độ, chính sách đãi ngộ đội ngũ cán bộ, công chức thích hợp; thẩm quyền bổ nhiệm, sử dụng, tiếp nhận, khen thưởng, kỷ luật, nâng bậc lương cho cán bộ, công chức, viên chức đã được xác định rõ thuộc trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính và Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Tỉnh mở rộng quyền và trách nhiệm quản lý cán bộ công chức, gắn phân cấp về quản lý nhân sự với phân cấp về nhiệm vụ và phân cấp về tài chính phù hợp với quy định về quyền tự chủ của đơn vị hành chính - sự nghiệp.

Đến nay, các đơn vị xây dựng quy chế đánh giá, bổ nhiệm, phân loại cán bộ, công chức bảo đảm quyền dân chủ của người được đánh giá, bổ nhiệm; phát hiện, sử dụng, động viên những cán bộ, công chức thực sự có đức, có tài tích cực làm việc và cống hiến.

Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố ban hành Quy chế triển khai Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/02/2007 của Bộ Nội vụ, về Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương nhằm xây dựng nền tảng văn hóa đạo đức nghề nghiệp và nâng cao tinh thần trách nhiệm cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.

Chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức được phân biệt ràng với tuyển dụng viên chức. Đối với công chức hành chính bắt buộc thi tuyển, viên chức sự nghiệp được áp dụng cả hai hình thức thi tuyển và xét tuyển theo chế độ hợp đồng làm việc. Tuy nhiên, từ năm 2002 tỉnh áp dụng hình thức xét tuyển đối với viên chức sự nghiệp; đến nay đã thực hiện tuyển dụng được 1.375 công chức hành chính, 17.964 viên chức sự nghiệp (trong đó: Sự nghiệp Giáo dục và đào tạo: 14.950, Y tế: 1.331, Sự nghiệp khác: 1.683). Việc thi nâng ngạch đối với chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và các ngạch tương đương tiếp tục được triển khai, thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh.

- Về công tác cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức.

Việc cải cách một bước hệ thống thang bảng lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang của Chính phủ trong thời gian qua đã phần nào nâng cao mức thu nhập cho lực lượng cán bộ, công chức, viên chức an tâm công tác.

Về phần địa phương, tỉnh triển khai thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế cho các đối tượng chưa đạt trình độ chuẩn về chuyên môn theo như yêu cầu của ngạch. Đồng thời, ban hành chế độ về chính sách đãi ngộ, ưu tiên, khuyến khích về vật chất và tinh thần đối với người có tài, có trình độ cao như tiến sĩ, thạc sĩ, chuyên gia giỏi để tham gia vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, tập trung một số lĩnh vực như: Nhà nước và Pháp luật, hành chính công, kinh tế phát triển, công nghệ sinh học, nông-lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, bảo quản nông-lâm sản, công nghiệp thực phẩm, quản lý đô thị bảo vệ môi trường, y học, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ thông tin, bước đầu có kết quả như sau:

+ UBND tỉnh cử 251 cán bộ, công chức, viên chức đi dự thi và học cao học thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau, trong đó:

. Sự nghiệp Giáo dục: 159 người

. Sự nghiệp Y tế: 13 người

. Sự nghiệp Giáo dục thuộc Sở LĐTBXH: 20 người

. Sự nghiệp VHTT: 05 người

. Các cơ quan QLNN và sự nghiệp khác: 54 người

+ Hỗ trợ kinh phí cho sinh viên dân tộc thiểu số có nguồn gốc ở Tây Nguyên hiện đang theo học các trường Cao đẳng và Đại học trong, ngoài tỉnh.

+ Hỗ trợ kinh phí cho cán bộ, công chức lãnh đạo trong hệ thống chính trị của tỉnh khi thực hiện luân chuyển theo Nghị quyết số 11-NQ/BCT ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị gồm: cán bộ lãnh đạo từ tỉnh về huyện, thị xã, thành phố; từ huyện, thị xã, thành phố về xã, phường, thị trấn; cán bộ luân chuyển từ huyện này sang huyện khác và thành phố đi các huyện.

+ Hỗ trợ kinh phí cho cán bộ, công chức lãnh đạo trong hệ thống chính trị của tỉnh có khả năng phát triển, được điều động từ xã phường, thị trấn về huyện, thị xã, thành phố; cán bộ từ huyện, thị xã, thành phố về tỉnh.

+Tuyển dụng và bố trí công tác cho 11 cán bộ, công chức, viên chức có trình độ thạc sĩ và chuyên khoa cấp I, trong đó:

. Khối quản lý Nhà nước: 03 thạc sĩ

. Sự nghiệp Y tế:  06 chuyên khoa cấp 1, 01 thạc sĩ

. Sự nghiệp giáo dục và Đào tạo: 01 thạc sĩ

. Đối với cán bộ, công chức, viên chức có trình độ tiến sĩ đến nay vẫn chưa thực hiện được.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức được đổi mới về phương thức và hình thức đào tạo như: chính quy, tại chức, từ xa, mở rộng ... nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận; nhiều cán bộ, công chức đã phấn đấu đạt trình độ trên chuẩn (những người làm công tác khoa học, nghiên cứu, giảng dạy, bác sỹ...), việc đào tạo đã hướng đến những lĩnh vực thuộc nhu cầu cần ưu tiên hiện nay của tỉnh.

4. Cải cách tài chính công:

Kết quả chủ yếu đã đạt được:

- Thực hiện Luật Ngân sách nhà nước: Tỉnh đã phân cấp quản lý tài chính và ngân sách theo hướng xóa bỏ cơ chế “xin–cho” trong phân bổ chi ngân sách, tạo sự chủ động cho các đơn vị, tăng cường trách nhiệm của các sở, ngành, các huyện, thị xã và thành phố về quản lý tài chính, sử dụng ngân sách và thực hiện phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp huyện, cấp xã của địa phương theo Luật ngân sách, bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, quyền quyết định của các cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.

- Đến nay, hầu hết các đơn vị, địa phương được giao quyền tự chủ theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP đã triển khai thực hiện tốt việc điều hành dự toán, chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí, đáp ứng được nhiệm vụ được giao và chủ động trong việc trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn; tạo điều kiện để bố trí sử dụng biên chế và quản lý chi tiêu một cách hợp lý, tiết kiệm được các khoản chi thường xuyên, tạo nguồn tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống của cán bộ, công chức.

- Tổng số cơ quan thực hiện Nghị định 130:  209/209 cơ quan, trong đó:

Số cơ quan cấp tỉnh:   29/29 cơ quan;

Số cơ quan cấp huyện:   180/180 cơ quan.

Các đơn vị, địa phương đã chủ động sử dụng dự toán được giao hàng năm và thực hiện các biện pháp tiết kiệm, tạo nguồn tăng thu nhập cho cán bộ, công chức. Các biện pháp tiết kiệm như: xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ và quản lý sử dụng tài sản công; trong đó, yêu cầu xác định tiết kiệm biên chế, sắp xếp phân công nhiệm vụ hợp lý theo trình độ và chuyên môn của từng cán bộ, công chức, trong chi tiêu chỉ tập trung chi cho công tác chuyên môn, hạn chế chi đặt báo, thông tin, vật tư, nhiên liệu, văn phòng phẩm, tiếp khách… thanh toán phải đảm bảo các yêu cầu theo Quy chế chi tiêu nội bộ, đình kỳ hàng qúy, 6 tháng và hàng năm, bộ phận kế toán của đơn vị thanh, quyết toán và phân tích đánh giá tình hình thực hành tiết kiệm chi để có hướng điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, cũng còn một số đơn vị chưa thực hiện triệt để các biện pháp tiết kiệm trong phần kinh phí giao khoán dẫn đến không tạo được nguồn để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức.

Kết quả mức tăng thu nhập các đơn vị thuộc tỉnh như sau:

Khối tỉnh:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần là: 28 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1 lần là: 1 đơn vị;

+ Đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm được so với dự toán được giao cao nhất là 14,63 % (Sở Tài nguyên & Môi trường);

+ Đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 180.000đồng/người/tháng (Văn phòng Sở Tài nguyên & Môi trường);

Khối huyện:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần là: 91 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1lần là: 16 đơn vị;

+ Đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm được so với dự toán được giao cao nhất là 21,35 % (Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Ea Súp) và có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 308.000đồng/người/tháng (Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Ea Súp);

- Các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đã chủ động xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình theo tinh thần tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ gửi cơ quan tài chính, kho bạc đồng cấp để làm cơ sở thực hiện và kiểm soát chi theo quy định. Các quy chế chi tiêu nội bộ đều được xây dựng theo dự toán giao và các văn bản quy định về chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Trung ương hoặc địa phương quy định để xây dựng các khoản thu, chi phù hợp với đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ của từng đơn vị.

Tổng số cơ quan thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP:  906/906 đơn vị, trong đó:

Số đơn vị dự toán cấp tỉnh:   206/206 đơn vị;

Số đơn vị dự toán cấp huyện:   700/700 đơn vị.

Trên cơ sở biên chế và kinh phí được cấp có thẩm quyền giao hàng năm, các đơn vị sự nghiệp đã chủ động sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn cho phù hợp với công việc chuyên môn của đơn vị mình bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chấp hành tốt các chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức do Nhà nước quy định, các khoản thu, chi tại các đơn vị đều đảm bảo đúng chế độ cũng như được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ và được công khai trong cơ quan thông qua đại hội công đoàn viên chức hàng năm; cân đối các khoản chi tiêu một cách tiết kiệm và hợp lý, giảm và tiết kiệm chi cho hoạt động hành chính như: xăng xe, điện, nước, văn phòng phẩm…, quản lý chặt chẽ ngày, giờ công và đánh giá hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng công việc của cán bộ, công chức, cơ bản tăng nguồn thu nhập cho cán bộ, công chức, như sau:

Khối tỉnh:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần là: 65 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1 lần là: 43  đơn vị;

+ Đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 360.000đồng/người/tháng (Đài phát thanh truyền hình tỉnh);

Khối huyện:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1lần là: 314 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1lần là: 7 đơn vị;

+ Đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 287.000đồng/người/tháng (Ban quản lý chợ Liên Sơn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Lắk);

Đối với phân phối thu nhập tăng thêm cho cán bộ công chức được xác định phương án phù hợp, điều này đã làm cho cán bộ công chức yên tâm công tác, nâng cao hiệu quả chuyên môn; từng bước mở rộng các dịch vụ, từ đó góp phần nâng cao và đa dạng hoá các hình thức phục vụ công.

5. Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước:

Kết quả chủ yếu đạt được:

- Kỷ cương, kỷ luật hành chính và đổi mới lề lối và phương thức làm việc.

UBND tỉnh chỉ đạo các đơn vị xây dựng quy chế phối hợp đối với những công việc có liên quan nhiều ngành, nhiều cấp, chấm dứt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, đơn vị trong việc giải quyết các yêu cầu của công dân, tổ chức. Cho đến nay, 100% các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh đã xác định rõ các nguyên tắc làm việc và ban hành quy chế làm việc, quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn cho tập thể, cá nhân người đứng đầu cơ quan, đơn vị, mối quan hệ công tác của cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ.

Đến nay, nhiều cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng quy chế phối hợp, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong quá trình giải quyết giấy tờ, hồ sơ của công dân, tổ chức, thời hạn tiến hành kiểm tra, xác minh và tổ chức thực hiện các yêu cầu của cơ quan, tổ chức; ban hành Nội quy tiếp công dân để tiếp nhận và xử lý kịp thời các phản ánh khiếu nại tố cáo của công dân, tổ chức về các hành vi gây sách nhiễu, phiền hà trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kỷ luật lao động, kỷ luật hành chính, chế độ trách nhiệm v.v…

Thái độ phục vụ, tinh thần làm việc của cán bộ, công chức có nhiều chuyển biến tích cực, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công việc, củng cố niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp đối với cơ quan quản lý Nhà nước các cấp trong tỉnh. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường, thời gian giải quyết công việc được rút ngắn, giảm chi phí hành chính, đạt hiệu quả trong việc giải quyết yêu cầu các của tổ chức, công dân.

- Về hội họp và giấy tờ hành chính.

Nhìn chung, phương thức hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc hiện nay đã đảm bảo được phần nào theo yêu cầu cải cách hành chính. Tuy nhiên, tình trạng hội họp vẫn diễn ra nhiều, giấy tờ hành chính gia tăng, chưa  ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào việc họp hành cũng như trao đổi văn bản. Khắc phục tình trạng này, tỉnh đã triển khai được 10 điểm cầu tại Sở Thông tin và Truyền thông và 09 đơn vị huyện để tiến hành giao ban điện tử đa phương tiện, trên cơ sở ưu tiên triển khai tại các huyện xa trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Tỉnh đã triển khai ứng dụng hệ thống điều hành trực tuyến OMS tại 8 Sở, 15/15 huyện, thị xã, thành phố và 184/184 xã, phường, thị trấn nhằm giảm thiểu thời gian, chi phí in ấn, giấy tờ khi xử lý các văn bản trong hệ thống và nâng cao tính chủ động của lãnh đạo trong công tác giám sát, điều hành; phần mềm còn hỗ trợ sắp xếp lịch công tác, lịch trực, lịch họp và thông báo đến từng cá nhân trong hệ thống, loại bỏ những việc làm hình thức, không có hiệu quả thiết thực, giảm hội họp, giảm giấy tờ hành chính.

- Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000, quản lý theo kết quả đầu ra (PMS) vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị.

Từ năm 2004, UBND tỉnh chủ động  ban hành Chỉ thị số 04/CT-UB ngày 24/2/2004 về việc đẩy mạnh áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng  theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 trong các doanh nghiệp, cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh; Quyết định số 1159/QĐ-UB ngày 29/6/2005 về việc phê duyệt Chương trình hỗ trợ xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 (HTQLCL) tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2005-2007. Tỉnh đã bố trí các nguồn lực, thành lập Ban chỉ đạo ISO, phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên, áp dụng tiêu chuẩn để cải tiến lề lối làm việc; tiến hành phối hợp với các đơn vị thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đơn vị tư vấn  tổ chức  05 đợt  Hội nghị  phổ biến giới thiệu về tiêu chuẩn, đào tạo phương pháp xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000, trình tự thủ tục chứng nhận, đào tạo chuyên gia đánh giá chất lượng nội bộ cho lãnh đạo và  CBCC của các Sở, ngành, các huyện và doanh nghiệp; tổ chức Hội đồng xét chọn các đơn vị có cam kết xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, đặc biệt là các cơ quan có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội hoặc được chỉ định thực hiện đề án cải cách thủ tục hành chính, mỗi đơn vị cơ quan hành chính nhà nước được hỗ trợ 130.000.000 đồng từ nguồn sự nghiệp khoa học hàng năm của tỉnh để triển khai.

Thực hiện Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ, quy định áp dụng hệ thống Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 10 /CT-UBND ngày 22/8/2007 về việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và thành lập đoàn  tham quan học tập kinh nghiệm xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001:2000 tại Sở Tài Chính Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Xây dựng tỉnh Long An, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Tiền Giang, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Tháp; phối hợp với Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn (Quacert) tổ chức khoá đào tạo chuyên gia đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 cho 25 học viên đến từ UBND huyện Krông Búk (thị xã Buôn Hồ) và các Sở: Khoa học Công nghệ, Xây dựng, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường; hướng dẫn và cung cấp các tài lịêu liên quan đến việc xây dựng hệ thống theo hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Khoa học và Công nghệ, giới thiệu các tổ chức tư vấn, tổ chức chứng nhận đang hoạt động hợp pháp để các cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN), doanh nghiệp lựa chọn được thực hiện.

Đến nay, toàn tỉnh đã có 19 cơ quan hành chính  được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp chứng nhận là: Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tư pháp, Cục thuế tỉnh, Sở Giáo dục Đào tạo, Sở Giao thông Vận tải, Sở Thông tin và truyền thông, Văn phòng UBND tỉnh; UBND thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ, các huyện Cư M’gar, Lăk, Krông Pắc nhằm duy trì, nhân rộng, việc áp dụng tiêu chuẩn này trong các cơ quan hành chính Nhà nước trong những năm tiếp theo đạt kết quả.

Về chuẩn hoá các quy trình hành chính theo hướng quy định rõ trách nhiệm của cán bộ công chức, hướng dẫn cụ thể công việc, biểu mẫu ghi chép rõ ràng, dễ thực hiện cho cấp dưới, dễ hiểu cho người dân, công việc có kiểm tra đánh giá, cải tiến được phương pháp làm việc khoa học, bảo đảm các hồ sơ giải quyết đúng trình tự, đúng thời gian theo các quy định hiện hành; mối quan hệ phối hợp ngang - dọc được tăng cường, hồ sơ và tài liệu được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo yêu cầu cải cách hành chính về tính minh bạch trong xử lý công việc.

Kết quả điều tra khảo sát nội bộ dưới sự giám sát của Sở Khoa học và Công nghệ chỉ ra  95% người dân hài lòng với các dịch vụ do Sở Tài chính cung cấp, 100% người dân đánh giá rất hài lòng và hài lòng đối với dịch vụ do Sở Xây dựng cung cấp, bộ phận cấp phép xây dựng là bộ phận tốt nhất. Việc xây dựng các quy trình giải quyết công việc theo tiêu chuẩn ISO đã cải tiến quy trình giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết, phân định rõ trách nhiệm của cán bộ chuyên môn xử lý hồ sơ và trách nhiệm của lãnh đạo cơ quan đơn vị, đáp ứng yêu cầu giải quyết hồ sơ hành chính cho công dân và tổ chức.

Hệ thống quản lý theo kết quả (PMS) đã được xây dựng phục vụ cho công tác quản lý xây dựng, quản lý quy hoạch đô thị, đăng ký hộ tịch, văn bản quy phạm pháp luật, an toàn bức xạ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và một số lĩnh vực khác tại 04 Sở: Xây dựng, Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Trường Chính trị tỉnh.

Các cơ quan, đơn vị đều nhận thấy sự hoàn thiện của mô hình quản lý theo kết quả so với quản lý truyền thống trên cơ sở xây dựng bộ chỉ số đánh giá, đo lường mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế về quan điểm trong quá trình tổ chức thực hiện PMS:

Một số hoạt động và chỉ số đánh giá chưa hướng đến mục tiêu, chưa có sự thích hợp của các chỉ số thực hiện tới các hoạt động và đầu ra.

PMS chỉ được ứng dụng cho mục tiêu bộ phận, thay vì áp dụng toàn bộ các mục tiêu trong đơn vị.

- Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin (tin học hóa) vào hoạt động quản lý hành chính, nâng cao năng lực quản lý điều hành của lãnh đạo cơ quan, đơn vị.

Trong những năm qua, tỉnh tiến hành nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, từ đó tác động mạnh mẽ đến hoạt động của các doanh nghiệp và nhân dân, tạo đà phát triển ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay đã có chuyển biến về nhận thức, hầu hết cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh đã trang bị máy tính làm việc, tỷ lệ cán bộ sử dụng máy tính làm việc trên 80%, tỷ lệ các cơ quan có mạng LAN là 92,3%, tỷ lệ cơ quan kết nối Internet là 100%, 100% cơ quan sử dụng hệ thống eMail của tỉnh để gửi nhận báo cáo, văn bản và trao đổi công việc, do đã thiết lập.

Hệ thống thư điện tử (eMail) công vụ được trang bị đến từng cán bộ công chức các cơ quan, đơn vị thông qua thiết lập 3.382 hộp thư điện tử cho cán bộ, công chức, viên chức các Sở, ban, ngành, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác trao đổi thông tin, gửi nhận văn bản, báo cáo qua hệ thống eMail của các cơ quan nhà nước theo Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 03/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sử dụng hệ thống điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước; áp dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành PMS cho 10 đơn vị; Hệ thống cổng thông tin điện tử của tỉnh chính thức đi vào hoạt động liên kết với trang điện tử thủ tục hành chính, trang  thông tin điện tử của các Sở : Kế hoạch và Đàu tư, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ v.v ... đáp ứng nhu cầu của công dân, tổ chức trong việc tìm hiểu thủ tục hành chính của các Sở, ban, ngành và UBND các cấp, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thông tin các hoạt động và hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn của ngành, lĩnh vực; công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, giải đáp vướng mắc được kịp thời như Văn phòng Tỉnh uỷ duy trì tốt quản trị mạng máy tính với các đơn vị thuộc khối Đảng, Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai áp dụng phần mềm quản lý điểm học sinh, phần mềm quản lý cán bộ, công chức (PMIS) và phần mềm quản lý học sinh (EMIS) trong toàn tỉnh, ứng dụng phần mềm tổng hợp thi đua khen thưởng và tập huấn phần mềm mã nguồn mở cho cán bộ, giáo viên, hình thành danh mục hộp thư điện tử để trao đổi thông tin với các đơn vị trực thuộc Sở, phòng Giáo dục các huyện, thị xã, thành phố và các trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường trực thuộc trong tỉnh; Sở Kế hoạch và Đầu tư áp dụng phần mềm đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh qua Cổng thông tin doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp và công dân tiếp cận và khai thác những thông tin về doanh nghiệp và đầu tư trên địa bàn tỉnh; Cục Hải quan cung cấp phần mềm cho các doanh nghiệp để thực hiện thủ tục hành chính bằng hình thức khai báo hải quan từ xa; Sở Lao động Thương binh và Xã hội ứng dụng phần mềm quản lý chi trả cho đối tượng chính sách, phần mềm tra tìm mộ liệt sỹ, quản lý hộ nghèo. Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện Dự án triển khai trạm Vsat IP và ứng dụng IP để đưa tiến bộ KHCN và Internet băng rộng về nông thôn. Bảo hiểm xã hội ứng dụng có hiệu quả các phần mềm theo quy định của ngành, triển khai hướng dẫn phần mềm kế toán, phần mềm in thẻ BHYT tự nguyện, phần mềm cấp sổ BHXH và nhập dữ liệu thời gian tham gia BHXH, phần mềm thu nâng cấp SMS 5.5. Huyện Cư M’gar đã chủ động xây dựng trang thông tin điện tử, công khai thông tin cũng như các thủ tục hành chính giải quyết tại huyện; Sở Tư pháp đã triển khai áp dụng phần mềm Quản lý hộ tịch và đăng ký cấp bản sao giấy tờ hộ tịch qua mạng Internet, Modul hiển thị dữ liệu thống kê lên Website và tiến hành trang bị máy vi tính tại Sở, 03 phòng Tư pháp, 45 xã, phường, thị trấn ở 03 huyện Ea Súp, Krông Bông, Thành phố Buôn Ma Thuột để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất triển khai áp dụng phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch trên phạm vi cả nước theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Văn phòng UBND tỉnh đã trang bị hệ thống thiết bị phần mềm quản lý cơ quan. Sở Thông tin và Truyền thông áp dụng phần mềm Edocman về quản lý văn bản hành chính, phần mềm lưu giữ, quản lý, xử lý văn bản...

Nhờ những kết quả trên, Chỉ số ICT-INDESX về sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Đắk Lắk liên tục tăng trong 5 năm trở lại đây.

Năm 2005 xếp hạng 50/60 tỉnh, thành trong cả nước;

Năm 2006, xếp hạng 38/64 tỉnh, thành trong cả nước;

Năm 2007, xếp hạng 31/64 tỉnh, thành trong cả nước ;

Năm 2008- 2009, xếp hạng 26/63 tỉnh, thành trong cả nước

Kết quả trên cho thấy tình hình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước đã có chuyển biến tích cực về số lượng, chất lượng. Tuy nhiên, việc đầu tư về ứng dụng CNTT xét về quy mô vẫn còn hạn chế và chưa đồng bộ, do nguồn kinh phí được phân bổ rất hạn hẹp, một số đơn vị chưa thực sự quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý và điều hành, nhận thức của một số cán bộ, công chức do tâm lý ngại thay đổi, chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Hiện đại hóa trụ sở làm việc, đầu tư trang thiết bị phục vụ đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ quản lý.

Việc đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất công sở như: trụ sở làm việc, phòng tiếp công dân, phòng thực hiện cơ chế một cửa. UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND các huyện, thành phố và các Sở, ban, ngành rà soát, bổ sung quy hoạch xây dựng trụ sở làm việc; trên cơ sở quy hoạch các đơn vị tổng hợp nhu cầu lập báo cáo đầu tư trụ sở làm việc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để đưa vào kế hoạch đầu tư hàng năm. Riêng hệ thống trụ sở làm việc xã, phường đã được rà soát, bổ sung quy hoạch, nâng thêm quy mô diện tích để phù hợp với biên chế, nhiệm vụ được giao.

Trong giai đoạn 2001 – 2004 trụ sở làm việc HĐND&UBND xã, phường, thị trấn được bố trí vốn xây dựng theo thiết kế mẫu được UBND tỉnh phê duyệt, ngân sách tỉnh bố trí hỗ trợ từ 70 – 80% tổng vốn đầu tư, phần còn lại thuộc ngân sách địa phương và bố trí 100% vốn đối với các xã mới thành lập.

Việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc các xã, phường trên địa bàn tỉnh rất cần thiết, nhưng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho công tác này rất hạn chế, phần lớn  nhờ vào nguồn hỗ trợ có mục tiêu phân bổ từ Trung ương. Trong thời gian qua, ngân sách tỉnh và ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư cho 101 hạng mục trụ sở làm việc cấp xã phường trên địa bàn tỉnh (trong đó có 26 trụ sở xã được thành lập mới), với tổng vốn đầu tư 58.648 triệu đồng. Ngoài ra nguồn ngân sách của huyện, thành phố, thị xã cũng đã hỗ trợ đầu tư thêm cho một số trụ sở cấp xã có nhu cầu đầu tư cải tạo, nâng cấp, mở rộng.

Đến nay, các đơn vị hành chính huyện  phần lớn được thành lập vào thời kỳ trước năm 2000, các trụ sở làm việc HĐND&UBND cấp huyện được quy định diện tích xây dựng theo thiết kế mẫu và định biên theo Quyết định 147/1999/QĐ-TTg ngày 05/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ, các công trình này không còn phù hợp cần xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các trụ sở làm việc của HĐND&UBND cấp huyện cùng với các phòng ban là cần thiết; được các huyện, thành phố và tỉnh quan tâm đầu tư và nâng cấp 25 trụ sở làm việc HĐND&UBND huyện và các phòng, ban cấp huyện; 26 công trình trụ sở làm việc Huyện ủy và đoàn thể cấp huyện.

Theo báo cáo thống kê, trong 10 năm qua, tỉnh đã bố trí vốn kế hoạch đầu tư cho 215 hạng mục công trình trụ sở làm việc của xã, phường, thị trấn; các huyện, thành phố, thị xã, các Sở, ban, ngành cấp tỉnh thực hiện chương trình đầu tư trụ sở làm việc với tổng vốn đã bố trí là 270.768 triệu đồng. Đến nay nhiều đơn vị đã có trụ sở khang trang như UBND thị xã Buôn Hồ, UBND huyện Krông Năng, Lắk, Krông Bông, Ea Súp, Buôn Đôn …

Trong 10 năm qua, công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng, từng bước đổi mới tổ chức phương thức hoạt động của bộ máy hành chính, tạo ra sự đồng thuận và hưởng ứng mạnh mẽ của đông đảo các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính.

Cải cách thủ tục hành chính gắn liền với thực hiện cơ chế “một cửa” cả ở ba cấp chính quyền địa phương đã tạo ra sự thống nhất trong hệ thống hành chính; nâng cao nhận thức cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ công chức trong quá trình giải quyết các yêu cầu của tổ chức và công dân góp phần đổi mới mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân, quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau trong quá trình thực thi công vụ.

Thông qua việc thống kê rà soát thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã đơn giản hóa và loại bỏ những thủ tục hành chính trùng lắp, tự đặt ra thuộc thẩm quyền giải quyết ở các cơ quan hành chính – sự nghiệp thuộc tỉnh; xây dựng được cơ sở dữ liệu về thủ tục hành chính ở 3 cấp (Sở, ngành, huyện, xã) giúp cho mọi người dân có thể dễ dàng tìm hiểu, tra cứu một cách đầy đủ, có hệ thống các quy định, thủ tục cần thiết trong giao dịch hành chính công thông qua Trang thông tin điện tử của tỉnh và cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.

Về cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được điều chỉnh, sắp xếp tinh gọn, hợp lý hơn. Xác định rõ phạm vi, nội dung, chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực theo nguyên tắc quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Đã thực hiện điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước giữa các cấp hành chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn, trên nguyên tắc mỗi việc chỉ do một cơ quan phụ trách, khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Chính quyền địa phương được phân cấp nhiều hơn. Phân biệt và tách chức năng quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động trong việc quản lý, sử dụng biên chế và tài chính theo đúng quy định của Nhà nước.

Công tác chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, cải cách chế độ công vụ, công chức được đẩy mạnh nhằm sớm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức theo quy định; đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh có bước trưởng thành đáng kể, được nâng cao về số lượng và chất lượng, một bộ phận công chức hành chính về năng lực, trình độ, kỹ năng đã đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.

Công tác quản lý tài chính công đã và đang thực hiện có hiệu quả, hạn chế và khắc phục tình trạng tham nhũng, lãng phí trong các cơ quan trên địa bàn. Cơ sở vật chất đã được trang bị và nâng cấp cơ bản, đảm bảo cho việc phục vụ các hoạt động của đơn vị, địa phương.

Câu 3:

Đến nay, có 20/27 cơ quan cấp tỉnh (8 đơn vị ngành dọc) được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ, trong đó có 15 Sở, 01 Ban và 4 đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh; gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch; Sở Tư pháp, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế, Sở Công thương, Sở Nội vụ, Ban quản lý các khu công nghiệp, Công an tỉnh, Cục thuế tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Kho bạc nhà nước tỉnh. 15/15 huyện, thành phố, thị xã và 184/184 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo quy định thống nhất về lĩnh vực, trình tự tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND huyện, thị xã, thành phố và tại UBND xã, phường, thị trấn, đạt 100%.

Việc thực hiện cơ chế một cửa tại UBND cấp huyện và cấp xã ở tỉnh ta theo quy định của các văn bản:

Quyết định số 3191/QĐ-UB ngày 20/11/2000 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án Cải cách hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND thành phố Buôn Ma Thuột;

Quyết định số 3192/QĐ-UB ngày 20/11/2000 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND huyện Krông Pắc;

Quyết định số 992/QĐ-UB ngày 10/4/2001 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa” tại UBND huyện EaKar;

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003, về quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

Tỉnh ban hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện cơ chế hành chính “một cửa”, chọn một số lĩnh vực thủ tục hành chính đang thực hiện tại UBND cấp huyện, thành phố và UBND cấp xã, phường, thị trấn;

Ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 3360/KH-UBND ngày 11/9/2007 về việc thực hiện Quyết định 93 của Thủ tướng Chính phủ;

Có bao nhiêu thủ tục hành chính, lĩnh vực thực hiện theo cơ chế một cửa ở cấp huyện và cấp xã?

Kết quả giai đoạn 1, tỉnh đã công bố Bộ thủ tục hành chính 3 cấp: tỉnh, huyện, xã vào ngày 20/8/2009; theo đó, Bộ danh mục thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp huyện có 226 TTHC và Bộ danh mục  thủ tục hành chính chung áp dụng tại cấp xã có 141 TTHC.

 

Câu 4  ý 1: Tham khảo: QĐ 42-2008 trên  trang Web: sonoivudaklak.gov.vn

Khi doanh nghiệp nộp hồ sơ,….

ý 2:

QUY TRÌNH TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT HỒ SƠ

Tiếp nhận hồ sơ.

- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các xã, phường, thị trấn:

a) Tiếp nhận các loại hồ sơ thuộc lĩnh vực chính sách người có công với cách mạng của các cá nhân, tổ chức tại xã, phường, thị trấn khi có yêu cầu giải quyết chế độ chính sách;

b) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của tổ chức, cá nhân:

- Đối với hồ sơ chưa hợp lệ theo quy định thì hướng dẫn cụ thể bằng phiếu hướng dẫn theo mẫu để người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh; việc hướng dẫn được thực hiện theo nguyên tắc một lần, đầy đủ, đúng quy định như nội dung đã niêm yết công khai;

- Đối với hồ sơ hợp lệ (đúng nội dung, đầy đủ thủ tục) thì tiếp nhận, viết giấy biên nhận hồ sơ theo mẫu ghi rõ ngày trả kết quả đối với loại hồ sơ có hẹn thời gian cho người nộp; lập phiếu lưu chuyển, cập nhật thông tin hồ sơ vào sổ theo dõi hồ sơ.

c) Sau khi tiếp nhận hồ sơ, tổng hợp các loại hồ sơ cần giải quyết chuyển cho cán bộ phụ trách công tác Lao động – Thương binh và Xã hội để xử lý, nhận lại kết quả xử lý từ cán bộ phụ trách công tác Lao động – Thương binh và Xã hội để chuyển lên bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, thị, thành phố.

 

- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các huyện, thị, thành phố:

a) Tiếp nhận các loại hồ sơ từ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã, phường, thị trấn.

b) Kiểm tra từng loại hồ sơ đủ điều kiện, đúng quy định vào sổ theo dõi, lập giấy biên nhận hồ sơ và hẹn ngày trả kết quả tại Bộ phận.

c) Sau khi tiếp nhận hồ sơ, tổng hợp các loại hồ sơ cần giải quyết chuyển sang phòng Lao động – Thương binh và Xã hội xử lý và nhận lại kết quả xử lý từ phòng Lao động – Thương binh và Xã hội để chuyển lên bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội:

a) Tiếp nhận hồ sơ từ cấp huyện, thị xã, thành phố chuyển đến.

b. Nhận hồ sơ, viết giấy biên nhận hẹn ngày trả kết quả và chuyển phòng chuyên môn giải quyết.

c) Trả kết quả với bộ phận một cửa cấp huyện, thị, thành phố đảm bảo đúng hẹn. Trường hợp giải quyết không đúng hẹn phải có trách nhiệm thông báo lại cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, thị, thành phố biết lý do trễ hẹn và hẹn lại thời gian trả kết quả.

d) Mở sổ theo dõi việc tiếp nhận và trả kết quả, thực hiện việc đánh giá định kỳ, để phát hiện và sửa đổi kịp thời những thủ tục chưa sát thực tế, kiến nghị các cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi bổ sung.

Chuyển hồ sơ.

Sơ đồ tổng quát



- Tỉnh ủy, UBND tỉnh

- Bộ Lao động - TBXH










Phòng nghiệp vụ

Chính sách người có công

 









Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Sở LĐTBXH

 



 

 

 

 

 









 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyển hồ sơ.

Bộ phận tiếp nhận chịu trách nhiệm phối hợp với công chức, bộ phận chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để giải quyết công việc của công dân, tổ chức.

a) Căn cứ tính chất, nội dung công việc, Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả chuyển hồ sơ đến công chức chuyên môn có liên quan để giải quyết.

b) Thời gian công chức chuyên môn tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ với Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả phải được thể hiện trong phiếu lưu chuyển hồ sơ và Sổ theo dõi giải quyết hồ sơ.

Phiếu lưu chuyển hồ sơ do Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả lập lần đầu và được lưu chuyển kèm theo hồ sơ của công dân, tổ chức đến các bộ phận, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho đến khi trả lại kết quả cho công dân, tổ chức. Các bộ phận, cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ phải xác nhận vào Phiếu lưu chuyển hồ sơ, trong Phiếu lưu chuyển hồ sơ phải thể hiện được thời gian nhận và chuyển hồ sơ khi qua từng công đoạn xử lý. Phiếu lưu chuyển hồ sơ phải được người nhận hồ sơ ký nhận và lưu tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn.

c) Hồ sơ tiếp nhận sau 16 giờ hàng ngày thì Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả chuyển hồ sơ cho công chức chuyên môn vào đầu giờ làm việc của buổi sáng hôm sau.

Xử lý hồ sơ.

Công chức chuyên môn xem xét, xử lý, trình lãnh đạo trực tiếp giải quyết theo thẩm quyền, chuyển trả kết quả về Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả.

Trả kết quả giải quyết hồ sơ.

1. Sau khi nhận kết quả giải quyết hồ sơ do công chức chuyên môn, bộ phận chuyên môn có liên quan chuyển đến, Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả trả hồ sơ cho tổ chức, cá nhân theo đúng thời gian đã hẹn và cập nhật vào sổ theo dõi hồ sơ.

2. Khi trả kết quả giải quyết hồ sơ, Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả hướng dẫn tổ chức, cá nhân ghi ngày nhận kết quả và ký nhận vào sổ theo dõi hồ sơ.

3. Trường hợp đến ngày hẹn nhưng hồ sơ vẫn chưa được xử lý xong, Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả có trách nhiệm thông báo lý do trễ hẹn, xin lỗi tổ chức, cá nhân và hẹn lại thời gian trả kết quả.

 

Câu 5:

Cải cách tổ chức bộ máy hành chính:

- Kết quả chủ yếu đã đạt được:

- Năm 2001, thực hiện Quyết định số 207/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), UBND tỉnh đã thực hiện việc kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và cấp huyện. Trên cơ sở sắp xếp tổ chức bộ máy gọn nhẹ theo nguyên tắc Sở, ngành quản lý đa ngành, đa lĩnh vực và giảm bớt đầu mối, cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh được sắp xếp từ 23 cơ quan còn 22 cơ quan; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các huyện, thành phố từ 13 phòng, ban chuyên môn (đối với các huyện) và 14 phòng, ban chuyên môn đối với thành phố còn 10 phòng, ban chuyên môn. Hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, giảm bớt chồng chéo trong quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, nông lâm nghiệp, dân số- gia đình- trẻ em.

Năm 2008, thực hiện Nghị định số 13, 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; UBND tỉnh đã thực hiện sắp xếp tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh gồm 19 Sở, ban, ngành và tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, thị xã, thành phố gồm 13 phòng, ban. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy thuộc UBND tỉnh theo Nghị định 13/2004/NĐ-CP dựa trên cơ sở sáp nhập một số lĩnh vực từ cơ quan này sang cơ quan khác và giải thể một số cơ quan, đơn vị nhằm giảm số lượng cơ quan chuyên môn, giúp bộ máy tinh gọn hơn.

Việc thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ; số liệu tổng hợp đến tháng 6/2010 của toàn tỉnh  giảm được 609 người, trong đó: năm 2007 là 03 người, năm 2008 là 256 người, năm 2009 là 212 người, tháng 6/2010 là 138 người, tỉnh đang đề nghị cho đợt xét tháng 12/2010 là 212 người.

- Nhìn chung, đến nay bộ máy tổ chức trên địa bàn tỉnh đáp ứng được yêu cầu của cơ chế quản lý mới. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh từng bước được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường, cơ cấu tổ chức bộ máy được điều chỉnh hợp lý, quy định cụ thể hơn nhằm giúp các cơ quan, địa phương thực hiện thuận lợi nhiệm vụ được giao. Từ đó bộ máy hành chính các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được kiện toàn theo nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về hiệu quả công việc; phát huy tốt chức năng tham mưu về thể chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra và đôn đốc thực hiện. Tổ chức bộ máy cấp huyện, cấp xã cũng được tập trung củng cố, kiện toàn nhằm nâng cao năng lực hoạt động các phòng, bộ phận chuyên môn trực thuộc; quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn của từng cán bộ quản lý; đảm bảo tính thông suốt, đồng bộ, phát huy vai trò từng cá nhân, tổ chức chủ động, sáng tạo trong thực thi công vụ; khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm thực hiện tốt công tác cải cách hành chính tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

- Từ năm 2001, tỉnh đã triển khai Đề án phân cấp quản lý về nhân sự trong bộ máy chính quyền địa phương và quản lý nhà nước trên lĩnh vực đầu tư, xây dựng, đất, đất rừng, quản lý y tế, giáo dục ở một số đơn vị cấp tỉnh và cấp huyện nhằm tăng cường tính chủ động cho các đơn vị trong hoạt động quản lý và tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của Sở, ngành cấp tỉnh. Một số cơ quan được chọn thí điểm như Cục thuế,  Sở Tài chính, Sở  Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nội vụ, các đơn vị thực hiện mô hình một cửa. Tăng cường phân cấp quản lý cho cấp huyện, cấp xã đối với lĩnh vực cấp huyện, cấp xã đủ điều kiện, năng lực quản lý nhằm phát huy vai trò của UBND các cấp trong quản lý đời sống xã hội, khắc phục tình trạng  cấp trên làm thay nhiệm vụ, quyền hạn của cấp dưới và cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy nhiệm vụ cho cấp trên. Tỉnh thực hiện phân cấp đến cấp huyện và cấp xã đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản về nguồn thu và nhiệm vụ chi, cấp giấy phép xây dựng, chứng nhận quyền sử dụng đất, tổ chức quản lý cán bộ, công chức...

Kết quả cho thấy, các cơ quan đã thiết lập phương pháp hoạt động mới trên cơ sở phân công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền và mối quan hệ phối hợp. Hoạt động phân công, phân cấp bước đầu đã hình thành nhận thức một cách đầy đủ hơn trong chính quyền địa phương về sự phân biệt giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng sự nghiệp cung ứng dịch vụ hành chính công cho xã hội.

 

Câu 6

Cải cách tài chính công ở tỉnh Đắk Lắk :

Kết quả chủ yếu đã đạt được:

- Thực hiện Luật Ngân sách nhà nước: Tỉnh đã phân cấp quản lý tài chính và ngân sách theo hướng xóa bỏ cơ chế “xin–cho” trong phân bổ chi ngân sách, tạo sự chủ động cho các đơn vị, tăng cường trách nhiệm của các sở, ngành, các huyện, thị xã và thành phố về quản lý tài chính, sử dụng ngân sách và thực hiện phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp huyện, cấp xã của địa phương theo Luật ngân sách, bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, quyền quyết định của các cơ quan, đơn vị phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.

- Đến nay, hầu hết các đơn vị, địa phương được giao quyền tự chủ theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP đã triển khai thực hiện tốt việc điều hành dự toán, chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí, đáp ứng được nhiệm vụ được giao và chủ động trong việc trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn; tạo điều kiện để bố trí sử dụng biên chế và quản lý chi tiêu một cách hợp lý, tiết kiệm được các khoản chi thường xuyên, tạo nguồn tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống của cán bộ, công chức.

- Tổng số cơ quan thực hiện Nghị định 130: 209/209 cơ quan, trong đó:

Số cơ quan cấp tỉnh: 29/29 cơ quan;

Số cơ quan cấp huyện:180/180 cơ quan.

Các đơn vị, địa phương đã chủ động sử dụng dự toán được giao hàng năm và thực hiện các biện pháp tiết kiệm, tạo nguồn tăng thu nhập cho cán bộ, công chức. Các biện pháp tiết kiệm như: xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ và quản lý sử dụng tài sản công; trong đó, yêu cầu xác định tiết kiệm biên chế, sắp xếp phân công nhiệm vụ hợp lý theo trình độ và chuyên môn của từng cán bộ, công chức, trong chi tiêu chỉ tập trung chi cho công tác chuyên môn, hạn chế chi đặt báo, thông tin, vật tư, nhiên liệu, văn phòng phẩm, tiếp khách… thanh toán phải đảm bảo các yêu cầu theo Quy chế chi tiêu nội bộ, đình kỳ hàng qúy, 6 tháng và hàng năm, bộ phận kế toán của đơn vị thanh, quyết toán và phân tích đánh giá tình hình thực hành tiết kiệm chi để có hướng điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, cũng còn một số đơn vị chưa thực hiện triệt để các biện pháp tiết kiệm trong phần kinh phí giao khoán dẫn đến không tạo được nguồn để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức.

Kết quả mức tăng thu nhập các đơn vị thuộc tỉnh như sau:

Khối tỉnh:

+Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần là: 28 đơn vị;

+Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1 lần là: 1 đơn vị;

+Đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm được so với dự toán được giao cao nhất là 14,63 % (Sở Tài nguyên & Môi trường);

+Đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 180.000đồng/người/tháng (Văn phòng Sở Tài nguyên & Môi trường);

Khối huyện:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần là: 91 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1lần là: 16 đơn vị;

+ Đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm được so với dự toán được giao cao nhất là 21,35 % (Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Ea Súp) và có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 308.000đồng/người/tháng (Phòng Y tế thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Ea Súp);

- Các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc đối tượng thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đã chủ động xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình theo tinh thần tại Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ gửi cơ quan tài chính, kho bạc đồng cấp để làm cơ sở thực hiện và kiểm soát chi theo quy định. Các quy chế chi tiêu nội bộ đều được xây dựng theo dự toán giao và các văn bản quy định về chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Trung ương hoặc địa phương quy định để xây dựng các khoản thu, chi phù hợp với đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ của từng đơn vị.

Tổng số cơ quan thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP:  906/906 đơn vị, trong đó:

Số đơn vị dự toán cấp tỉnh: 206/206 đơn vị;

Số đơn vị dự toán cấp huyện: 700/700 đơn vị.

Trên cơ sở biên chế và kinh phí được cấp có thẩm quyền giao hàng năm, các đơn vị sự nghiệp đã chủ động sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn cho phù hợp với công việc chuyên môn của đơn vị mình bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chấp hành tốt các chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức do Nhà nước quy định, các khoản thu, chi tại các đơn vị đều đảm bảo đúng chế độ cũng như được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ và được công khai trong cơ quan thông qua đại hội công đoàn viên chức hàng năm; cân đối các khoản chi tiêu một cách tiết kiệm và hợp lý, giảm và tiết kiệm chi cho hoạt động hành chính như: xăng xe, điện, nước, văn phòng phẩm…, quản lý chặt chẽ ngày, giờ công và đánh giá hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng công việc của cán bộ, công chức, cơ bản tăng nguồn thu nhập cho cán bộ, công chức, như sau:

Khối tỉnh:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1 lần là: 65 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1 lần là: 43  đơn vị;

+Đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 360.000đồng/người/tháng (Đài phát thanh truyền hình tỉnh);

Khối huyện:

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 0,1lần là: 314 đơn vị;

+ Số đơn vị có hệ số tăng thu nhập trên 0,1lần là: 7 đơn vị;

+Đơn vị có thu nhập tăng thêm cao nhất là: 287.000đồng/người/tháng (Ban quản lý chợ Liên Sơn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Lắk);

Đối với phân phối thu nhập tăng thêm cho cán bộ công chức được xác định phương án phù hợp, điều này đã làm cho cán bộ công chức yên tâm công tác, nâng cao hiệu quả chuyên môn; từng bước mở rộng các dịch vụ, từ đó góp phần nâng cao và đa dạng hoá các hình thức phục vụ công.

 

Câu 7:

I. Mục tiêu:

1. Cán bộ, công chức, các tầng lớp nhân dân có nhận thức đầy đủ, rõ ràng và thống nhất về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai     đoạn 2001 - 2010, cụ thể là :

- Thực trạng nền hành chính nhà nước; những thuận lợi, khó khăn trong công cuộc cải cách hành chính.

- Mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.

- Nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.

- Quan điểm, kế hoạch cụ thể và biện pháp tổ chức thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.

- Nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của toàn dân trong việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.

2. Cán bộ, công chức có thái độ tích cực, động cơ đúng đắn, thực sự tham gia hăng hái vào công cuộc cải cách hành chính nhà nước và kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức thực sự là những người có vai trò quyết định đến sự thành công của công cuộc cải cách hành chính.

Khơi dậy ý thức tự giác rèn luyện, tu dưỡng, đề cao tinh thần trách nhiệm, chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

3. Các cấp uỷ đảng, tổ chức chính quyền các cấp, các ngành, các cơ quan đoàn thể cũng như đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức hành chính hành động nhất quán để tạo ra động lực và bước phát triển mới trong công cuộc cải cách hành chính.

II. Một số hình thức, biện pháp chung tuyên truyền về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước:

1. Huy động và sử dụng mọi phương tiện thông tin đại chúng như các đài phát thanh, đài truyền hình, các báo viết ở Trung ương và địa phương, các tạp chí, tập san chuyên ngành trong việc tuyên truyền, phổ biến về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Củng cố, phát triển, mở rộng đội ngũ làm công tác tuyên truyền phổ biến cải cách hành chính.

2. Tổ chức biên soạn và phát hành rộng rãi các tài liệu, tờ gấp thông tin về cải cách hành chính, thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước phù hợp với từng mục tiêu, yêu cầu, nội dung tuyên truyền, phổ biến đến từng loại đối tượng.

3. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, phổ biến và quán triệt nội dung, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức.

4. Đưa nội dung cải cách hành chính nhà nước, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước một cách thích hợp vào chương trình giảng dạy chuyên đề hoặc ngoại khoá của hệ thống các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp.

5. Đưa nội dung thông tin về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước một cách thích hợp vào chương trình họp báo định kỳ của Chính phủ.

 

Câu 8

Trong 10 năm tới tập trung cải cách hành chính vào các nội dung sau:

- Cải cách thể chế hành chính.

- Cải cách tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế tài chính cho các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công.

- Cải cách công vụ, công chức.

- Chính phủ điện tử.

Trong đó, xác định Cải cách công vụ, công chức là nhiệm vụ then chốt và động lực của Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020: Thay đổi phương pháp quản lý đội ngũ cán bộ, công chức được xem là trọng tâm, do hệ thống quản lý hiện hành hầu như thiếu (hoặc hình thức) các yếu tố quản lý hiệu quả nguồn nhân lực, như: Thống nhất nhiệm vụ phải hoàn thành, mục tiêu và kết quả thực hiện, kết quả và quy trình kiểm tra, khen thưởng cho cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hỗ trợ các cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao và có chế tài đối với những trường hợp vi phạm pháp luật. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là lĩnh vực cần cải tiến và là bộ phận quan trọng của cải cách công chức, công vụ trong bối cảnh thực hiện Luật Cán bộ, công chức.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Add comment


Security code
Refresh

Giao lưu - Chia sẻ

Ảnh đẹp

  • ht.jpg
  • ht1.jpg
  • ht2.jpg
  • ht3.jpg
  • ht4.jpg
  • ht5.jpg
  • ht6.jpg
  • tk.jpg
  • tk1.jpg
  • tk2.jpg
  • tk3.jpg
  • tk4.jpg
  • tk5.jpg
  • tk6.jpg
  • tk7.jpg
  • tk8.jpg
  • tk9.jpg
  • tk10.jpg

Thống

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay174
mod_vvisit_counterHôm qua225
mod_vvisit_counterTuần này1450
mod_vvisit_counterTuần trước2631
mod_vvisit_counterTháng này7230
mod_vvisit_counterTháng trước12287
mod_vvisit_counterTất cả627455

Online (20 minutes ago): 10
Your IP: 54.81.254.212
,
Now: 2018-07-20 13:45