Xem kết quả: / 4
Bình thườngTuyệt vời 

Thông qua trò chơi phát triển ngôn ngữ giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính từ 3-6 tuổi

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Giao tiếp là một nhu cầu của con người và nó giúp cho con người hiểu biết lẫn nhau, thu nhận những thông tin thế giới bên ngoài, qua đó mở rộng tầm hiểu biết của mình. Thông qua giao tiếp, con người có thể bộc lộ thái độ ,tình cảm đối với những người xung quanh. Nhờ đó đời sống tình cảm của mỗi người được mở rộng và sâu sắc hơn. Nhờ có hoạt động giao tiếp con người mới có thể nhận thức được mình trong mối quan hệ với các thành viên khác có thể đánh giá được bản thân mình và đánh giá người khác.

Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ khiếm thính, trò chơi chính là cuộc sống thực của chúng, nếu không có trò chơi thì đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải sống. Hoạt động vui chơi trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ và nó chi phối tất cả các hoạt động khác của trẻ. Vì vậy, muốn giáo dục trẻ phát triển đặc biệt là phát triển giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính cần thực hiện dưới hình thức “ học mà chơi, chơi mà học”.

Nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp bằng lời, nhiều nhà khoa học, các chuyên gia, giáo viên trong và ngoài nước (Barry Wright, Hoàng Thị Nho, Trần Thị Thiệp, Ling.M.A...) đã tìm hiểu vấn đề này. Ngày nay, chúng ta có rất nhiều tài liệu về giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính, trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mần non nhưng việc sử dụng trò chơi nhằm phát triển giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, việc phát triển giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải có các phương pháp tác động phù hợp với đặc điểm và lứa tuổi của trẻ, phải lựa chọn các trò chơi phù hợp với sự phát triển thính giác, mở rộng vốn từ, rèn thực hành cấu trúc ngữ pháp và sử dụng từ, giọng, câu.

Vì những lý do trên và những kinh nghiệm thực tế mà tôi đã trải nghiệm tôi xin chia sẽ đề tài “Thông qua trò chơi phát triển ngôn ngữ giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính từ 3-6 tuổi” nhằm ghi nhận kết quả đạt được. Đồng thời đề suất những kiến nghị để góp phần đẩy mạnh hơn trong việc sử dụng trò chơi để phát triển giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính.

2. Mục đích nghiên cứu.

Tìm hiểu mức độ phát triển giao tiếp bằng lời của trẻ khiếm thính 3-6 tuổi khi sử dụng trò chơi.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu.

Khảo sát mức độ giao tiếp bằng lời trước khi sử dụng trò chơi của trẻ khiếm thính 3-6 tuổi.

Sử dụng trò chơi nhằm giao tiếp bằng lời cho 5 trẻ khiếm thính 3-6 tuổi tại lớp can thiệp sớm.

So sánh mức độ giao tiếp bằng lời của trẻ khiếm thính trước và sau khi sử dụng trò chơi.

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.

4.1. Đối tượng nghiên cứu.

Mức độ phát triển bằng lời của trẻ khiếm thính từ 3-6 tuổi.

4.2. Khách trể nghiên cứu.

Quá trình áp dụng trò chơi cho 5 trẻ khiếm thính.

5. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu mức độ phát triển giao tiếp bằng lời của trẻ khiếm thính từ 3-6 tuổi trước và sau khi sử dụng trò chơi.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp quan sát.

Quan sát hoạt động giao tiếp tự nhiên của trẻ với bạn bè, ba mẹ, giáo viên qua một số hoạt động có chủ đích, hoạt động vui chơi ngoài trời và sinh hoạt hằng ngày của trẻ.

6.2. Phương pháp đàm thoại

Trao đổi với phụ huynh của trẻ để tìm hiểu về mức độ giao tiếp bằng lời của trẻ ở trường và ở gia đình trẻ.

6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Sưu tầm và chọn lựa một số trò chơi tác động lên sự phát triển thính giác, rèn phát âm, mở rộng vốn từ.

6.4. Phương pháp thống kê toán học

So sánh, đối chiếu mức độ phát triển giao tiếp bằng lời của trẻ trước và sau khi tác động trò chơi.

7. Những thuận lợi và khó khăn .

* Thuận lợi.

* Giáo viên.

- Có kiến thức về quá trình phát triển của trẻ khiếm thính.

- Có kỹ năng quan sát và ghi chép hành vi của trẻ.

- Có kỹ năng xây dựng mối quan hệ với các trẻ bình thường qua giao tiếp.

- Có kỹ năng lắng nghe sự chia sẻ của cha mẹ trẻ và phát triển sự hợp tác trẻ.

- Hiểu tầm quan trọng của đồ chơi đối với trẻ.

- Có kỹ năng nhận ra giới hạn và nhu cầu của trẻ.

* Phụ huynh

- Hiểu được nhu cầu của trẻ và luôn bên cạnh chăm sóc, chơi cùng trẻ.

- Theo dõi được sự tiến bộ của trẻ.

- Tạo mọi điều kiện để trẻ có thể phát triển tốt nhất trong môi trường sống.

* Xã hội.

- Hiện nay các trẻ được phát hiện tật điếc sớm nên có sự hỗ trợ tốt cho việc học nghe nói.

- Máy móc hiện đại nên các trẻ được chuẩn đoán chính xác.

- Nhận biết một cách rõ ràng và sâu sắc hơn về tình hình thực tế của trẻ khiếm thính, có quan điểm thái độ dúng đắn đối với trẻ.

* Bản thân trẻ

- Giao tiếp bằng lời giúp trẻ khiếm thính dễ dàng diễn đạt nhu cầu của mình cho người khác hiểu.

- Mở rộng được mối quan hệ với bạn bè và mọi người xung quanh.

- Giao tiếp bằng lời giúp trẻ nhận thức được thế giới xung quanh.

* Đồ dùng, đồ chơi

- Đa dạng nhiều màu sắc dễ kích thích trẻ học ngôn ngữ.

-  Đồ chơi nhỏ gọn phù hợp với trẻ nhỏ.

- Có thể tận dùng nhiều đồ vật trong gia đình để tạo ra đồ chơi cho trẻ

VD: Tờ lịch cho bé học màu sắc, số đếm, bong hoa….

Lon sữa đã sử dụng xong cho trẻ học hình khối, màu sắc, tạo tiếng chuông kêu…

* Những khó khăn trong việc giao tiếp bằng lời của trẻ khiếm thính.

  • Khó khăn trong sự hiểu ngôn ngữ.

Thính giác của trẻ khiếm thính bị giảm nên sẽ gây khó khăn nhiều đến việc phát âm và khi trẻ sử dụng lời nói trong giao tiếp cũng khó có thể dẫn đến đọc sai, viết sai. Từ đó có thể dẫn đến ngôn ngữ giao tiếp bằng lời bị hạn chế và trẻ khiếm thính sẽ ít sử dụng lời nói hơn.

  • Những khó khăn trong ngôn ngữ biểu đạt.

ü     Giọng : Phần lớn trẻ phát âm với giọng bình thường rất khó nghe, hay giọng khàn, cao, yếu…

ü     Phát âm: Trẻ khó phân biệt được những âm gần giống nhau như b/m, t/đ…

ü     Thanh điệu: Hầu hết trẻ nói sai các thanh điệu và trẻ thường sử dụng những thanh dễ (thanh không, sắc, huyền)

VD: Thanh không: ông, ba, không, cho …

Thanh sắc: áo ,chó, cá…

Thanh huyền: bà, bò, gà…

ü     Ngữ pháp: Trẻ thường nói sai cấu trúc câu, ngữ pháp.

Trẻ thường nói theo tư duy, sự hiểu của mình chứ không theo cấu trúc ngữ pháp.

ü     Ngữ điệu: Trẻ hay nói rời rạc, ngắt nghỉ từng tiếng.

ü     Từ vựng: Vốn từ ở trẻ rất nghèo nàn và ít hơn nhiều so với trẻ bình thường.

8. Cơ sở lý luận.

8.1. Khái niệm trẻ khiếm thính

Trẻ khiếm thính là những trẻ bị mất hoặc suy giảm về sức nghe, kéo theo những hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp. Nói cách khác trẻ khiếm thính là trẻ bị suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của trẻ.

Mức độ điếc được dựa trên kết quả đo sức nghe. Đo sức nghe là xác định những âm thanh nhỏ nhất nghe được ở các tần số khác nhau.

 

 

 

  • Dựa vào sức nghe còn lại phân thành 4 mức độ như sau:

Mức độ khả năng nghe

Mức độ 1:điếc nhẹ(20-40db)                  Trẻ còn nghe được hầu hết những âm

thanh nhưng không nghe được tiếng

nói thầm.

Mức độ 2: điếc vừa(41-70db)       Trẻ có thể nghe được những âm thanh

to, đặc biệt không nghe được tiếng nói bình thường

Mức độ 3: điếc nặng(70-90db)     Trẻ chỉ nghe được tiếng nói to, sát tai, trẻ hầu như không nghe được , trừ một số âm thanh thật to như tiếng trống.

Mức độ 4:điếc sâu(trên 90db)

Trung bình trong 1000 trẻ sinh ra thì có đến 2 trẻ bị điếc bẩm sinh từ nặng đến nhẹ và có thêm 2 trẻ điếc mắc phải (điếc sau khi sinh). Một trẻ bị giảm sức nghe có thể ở một trong 3 trường hợp sau:

+ Mức độ giảm sức nghe 2 bên tai như nhau.

+ Mức độ giảm sức nghe 2 bên khác nhau.

+ Một tai bị giảm sức nghe, một tai bình thường.

Việc đánh giá đúng mức độ giảm sức nghe là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thành công của công tác Can Thiệp Sớm. Vì vậy, cần phải phát hiện sớm và đưa trẻ đi đến các bác sĩ, y tế để kiểm tra cho chính xác và đồng thời có cách đầu tư can thiệp đúng cách và phù hợp với từng trẻ.

8. 2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính.

Ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp, nó được coi như là một phương tiện chủ yếu trong giao tiếp. Vì vậy, mức độ phát triển ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đối với khả năng giao tiếp của trẻ khiếm thính.

Ngay từ khi sinh ra, trẻ đã phải học để hiểu được những âm thanh mà chúng nghe thấy, trẻ có thể nhận ra giọng nói của mẹ và những người thân trong gia đình trẻ. Nhưng nếu khi sinh ra trẻ đã bị điếc thì trẻ sẽ không hiểu được lời nói do không nghe được. Từ đó bị mất đi tiến trình học ngôn ngữ đầu tiên này.

*lứa tuổi mẫu giáo (3-6 tháng tuổi)

Việc hiểu lời nói đã được hoàn thiện và vốn từ của trẻ ở giai đoạn này khoảng từ 1000 - 4000 từ trong khi đó trẻ khuyết tật không nghe được tiếng nói của người xung quanh nên khả năng nói từ của trẻ bị hạn chế nhiều. Do đó cần có sự hỗ trợ tích cực thì trẻ mới phát triễn được ngôn ngữ trong giai đoạn này.

* Giai đoạn lứa tuổi đến trường.

Trẻ khuyết tật đến trường với vốn ngôn ngữ rất nghèo nàn, ở giai đoạn này ngôn ngữ viết chiếm ưu thế hơn so với ngôn ngữ nói, vì ngôn ngữ viết không đòi hỏi phải nghe mà thông qua quan sát bằng mắt. Đối với trẻ điếc nặng ,có nhiều hạn chế đáng kể về phát âm ,vốn từ ngữ, cấu trúc câu thường thiếu và còn nhiều lộn xộn.

8. 3. Đặc điểm ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính.

Trẻ khiếm thính không nghe được nghe không rõ tiếng của những người xung quanh và trẻ chưa biết tận dụng luồng hơi, cách phát âm. Vì thế, việc dạy phát âm cho trẻ rất quan trọng trong ngôn ngữ nói và hình thành tiếng nói của trẻ.  Trẻ khiếm thính học ngôn ngữ nói chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện gia đình phù hợp, dưới sự hướng dẫn của giáo viên và nhà ngôn ngữ trị liệu.

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN II: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

1. Các giải pháp thực hiện.

* Đối với giáo viên.

- Chọn đồ chơi phù hợp với trẻ.

- Lập chương trình dạy dựa trên mức độ giao tiếp của trẻ.

- Phối hợp với gia đình trẻ để thống nhất cách tác động.

- Quan sát và linh hoạt lồng ghép, đan xen các từ ngữ trong trò chơi.

- Khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ giao tiếp bằng lời.

- Ghi chép nhật kí sự tiến bộ của trẻ.

- Hướng dẫn phụ huynh cách tác động ngôn ngữ cho trẻ tai nhà.

* Đối với phụ huynh.

- Chọn đồ chơi phù hợp với trẻ.

- Khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ giao tiếp bằng lời.

- Thường xuyên theo dõi mức độ phát triển ngôn ngữ giao tiếp của trẻ.

- Thời gian trẻ ở gia đình nhiều nên rất tốt nếu phụ huynh biết cách khai thác và hướng dẫn trẻ sử dụng ngôn ngữ.

* Các biện pháp hướng dẫn trò chơi cho trẻ khiếm thính.

- Hướng dẫn trẻ cách chơi.

- Chơi mẫu cho trẻ nhìn và khuyến khích trẻ tham gia vào trò chơi

- Tham gia chơi cùng trẻ

- Quan sát và dùng lời gợi ý

- Tạo tình huống, đặt câu hỏi.

 

 

2. Một số trường hợp nghiên cứu cụ thể trước và sau khi tác động trò chơi trong 1 tháng.

2.1. Bé TRẦN BÌNH HẠ NGUYÊN.

Sinh ngày: 28/06/2006

Mức độ điếc: Độ 4 ( điếc sâu 2 tai)

* Trò chơi khám phá màu sắc.

ü     Trước khi tác động trò chơi.

- Bé học qua các thẻ tranh giao tiếp, hình ảnh trong sách, mô hình…

- Bé nói từ đơn: cá, bơi, đỏ, vàng, xanh, đẹp,…

- Lặp lại khi được nghe các từ đơn.

ü     Sau khi tác động trò chơi.

- Bé sử dụng từ đôi, từ có 3 tiếng như: Con cá ,màu vàng ,cá bơi bơi, con cá đẹp quá,…

- Biết tự lặp lại khi chơi trò chơi câu cá.

2.2. Bé NGUYỄN TRẦN THIÊN THƯ

Sinh ngày: 12/10/2005

Mức độ điếc: Độ 4 ( điếc sâu 2 tai)

* Trò chơi khám phá

ü     Trước khi tác động trò chơi.

- Bé học qua các thẻ màu, số đếm, mô hình…

- Bé nói từ đơn: nhà, đỏ, vàng, xanh, đẹp,5, 3, 4, 1, …

- Lặp lại khi được nghe các từ đơn.

ü     Sau khi tác động trò chơi.

- Bé sử dụng từ đôi, từ có 3 tiếng như:  Nhà đẹp, số 1, số 5, màu vàng ,bỏ vào lỗ, đếm 123,…

- Biết tự lặp lại khi chơi trò chơi.

2.3. Bé TRẦN NGUYỄN ANH THI.

Sinh ngày: 20/04/2006

Mức độ điếc: Độ 3 ( điếc sâu 2 tai)

* Trò chơi xây dựng

 

ü     Trước khi tác động trò chơi.

Bé học qua các thẻ màu, mô hình…

Bé nói từ đơn: nhà, đỏ, vàng, xanh, đẹp, xây, cao, bỏ vào…

Lặp lại khi được nghe các từ đôi.

ü     Sau khi tác động trò chơi.

Bé sử dụng từ đôi, từ có 3 tiếng như:  Nhà đẹp, nhà cao quá, em xây nhà,  bỏ vào lỗ, đếm 123, màu sắc xanh, đỏ…

Biết tự lặp lại khi chơi trò chơi.

3. Kết quả nghiên cứu.

So sánh mức độ phát triển giao tiếp bằng lời của trẻ khiếm thính từ 3-6 tuổi  trước và sau khi sử dụng trò chơi.

1. Vốn từ.

Những từ mà tôi sử dụng để nghiên cứu nhằm trong các hoạt động môi trường xung quanh : Con vật: con cá,con mèo, con cua…Đồ vật: cái mũ, cái kéo, cái áo…Hoa quả: quả cam, quả táo, quả chuối, hoa hồng…

Bảng 1: So sánh vốn từ của 3 trẻ can thiệp sớm tại trước và sau khi sử dụng trò chơi.

STT

Họ và tên trẻ

Trước khi tác động trò chơi

(Từ)

Sau khi tác động trò chơi (từ)

Vốn từ của trẻ sau khi tác động trò chơi.

1

Trần Bình Hạ Nguyên

Khoảng 35

Khoảng 45-50

Khoảng 10 -20  từ

2

Nguyễn Trần Thiên Thư

Khoảng 40

Khoảng 50

Khoảng 10 từ

3

Trần Nguyễn Anh Thi

Khoảng 25

Khoảng 32

Khoảng 7 từ

 

Sau 1 tháng tác động trò chơi, vốn từ của từng trẻ nhìn chung có tăng lên trung bình từ 10 -15 từ và có sự chênh lệch giữa các trẻ. Trẻ đạt nhiều nhất là bé Thiên Thư (khoảng 20 từ) trong khi đó đạt ít nhất là bé Anh Thi (7 từ)

2. Phát âm.

Bảng 2: Khả năng phát âm trước và sau khi sử dụng trò chơi.

 

STT

Họ và tên trẻ

TRước khi tác động trò chơi

(%)

Sau khi tác động trò chơi

(%)

1

Trần Bình Hạ Nguyên

20%

40%

2

Nguyễn Trần Thiên Thư

35%

50%

3

Trần Nguyễn Anh Thi

25%

35%

 

Sau khi sử dụng trò chơi, khả năng phát âm của trẻ có sự tiến bộ đáng kể. Thông qua trò chơi, trẻ có thể nhìn hình miệng và bắt chước lặp lại được nhiều ngôn ngữ tuy nhiên trong quá trình trẻ bắt chước giáo viên cần chú ý sửa lỗi cho trẻ.

3. Hình thức trẻ sử dụng trong giao tiếp.

Bảng 3: Hình thức trẻ giao tiếp trước và sau khi tác động trò chơi.

Các hình thức giao tiếp

Trước khi tác động trò chơi

(%)

Sau khi tác động trò chơi

(%)

Nói

20%

30%

Cử chỉ điệu bộ

 

 

Tranh ảnh

 

 

Hình thức khác

 

 

Nói kèm cử chỉ điệu bộ

80%

70%

 

Nhìn chung sự tác động của trò chơi vẫn còn hạn chế. Có thể 1 tháng tác động trò chơi vẫn chưa đủ để chúng ta có thể cung cấp cho trẻ những kiến thức kỹ năng cần thiết để trẻ có thể tự sử dụng hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ nói. Vì vậy, cần nhiều thời gian cho trẻ được lặp đi lặp lại nhiều lần để trẻ có thể vận dụng vào những tình huống trong giao tiếp hàng ngày.

PHẦN III: KẾT LUẬN.

1. Kết luận.

Giao tiếp bằng lời là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục trẻ can thiệp sớm. Việc sử dụng trò chơi nhằm phát triễn giao tiếp là một trong những phương pháp hiểu quả. Qua thực tế dạy trẻ khiếm thính tôi thấy được việc tác động trò chơi cho trẻ phát triễn ngôn ngữ nó vô cùng quan trọng, thông qua trò chơi trẻ rèn luyện được nhiều kỹ năng cơ bản như: rèn luyện thính giác, rèn cơ quan phát âm, rèn kỹ năng giao tiếp…Bên cạnh đó, vui chơi còn là cơ hội giúp trẻ khiếm thính xóa dần mặc cảm, tự ti, rụt rè,và mở rộng giao tiếp với mọi người xung quanh.

2. Kiến nghị.

1. Yêu cầu về trò chơi.

Trò chơi phải phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

Trò chơi phải hấp dẫn, thú vị ,màu sắc đẹp thu hút trẻ.

Trò chơi cần có nhiều ứng dụng để trẻ khám phá.

2. Về phía Trung tâm.

Tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên và phụ huynh về phương pháp sử dụng trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ.

Bổ sung thêm nhiều đồ chơi cho trẻ.

3. Về phía giáo viên.

Cần chú ý đến việc lồng ghép các hoạt động chơi trong giờ học.

Môi trường hoạt động góc chơi cần phong phú, đa dạng, kích thích sự sáng tạo tìm tòi của trẻ.

Phải chú ý đến nhu cầu của trẻ, sự thích thú hăng say học tập của trẻ.

4. Về phía phụ huynh.

Thường xuyên trao đổi thông tin về sự phát triển giao tiếp bằng lời của trẻ trong các hoạt động trong ngày tại gia đình.

Tham gia các buổi tập huấn về sự phát triển giao tiếp của trẻ.

 

Người viết

 

 

 

Nguyễn Thị Xuân Hiền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Charlotle Lynch – Julia Cooper Các kỹ năng giao tiếp sớm.

2. A.N. Le oonchiep, Sự phát triển tâm lý trẻ em, Trường CĐ Sư phạm mẫu giáo TW 3 TP. Hồ Chí Minh,1980.

3. Nguyễn Thị Phương Nga, tuyển tập trò chơi và phát triển ngôn ngữ- tập 1, Bộ Giáo dục và đào tạo,Trường cao đẳng Mẫu giáo Trung ương III, tài liệu lưu hành nội bộ.

4. Đặng Thu Quỳnh (2000), Trò chơi với chữ cái ngôn ngữ, Nhà xuất bản Giáo dục.

5. Trần Thị Thiệp (2006). Phương pháp dạy phát âm cho trẻ khiếm thính.Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

 

 

Mục lục

PHẦN I: MỞ ĐẦU…………………………………............1

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI…………………………………….........................1

2. Mục đích nghiên cứu……………………………………… …....2

3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………….............2

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu……………………………..2

5. Phạm vi nghiên cứu ………………………………………...........2

6. Phương pháp nghiên cứu………………………………………...2

7. Những thuận lợi và khó khăn……………………………………3

8. Cơ sở lý luận……………………………………………………...5

PHẦN II: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN………….........9

1. Các giải pháp thực hiện………………………………….............9

2. Một số trường hợp nghiên cứu cụ thể trước và sau khi tác động trò chơi trong 1 tháng…………………………………………….10

3. Kết quả nghiên cứu………………………………………..........13

PHẦN III: KẾT LUẬN…………………………………...15

1. Kết luận………………………………………………………….15

2. Kiến nghị………………………………………………………...15

TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………...17

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐĂK LĂK

TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT

-------***-------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

“Thông qua trò chơi phát triển giao tiếp bằng lời cho trẻ khiếm thính từ 3-6 tuổi”

 

Người thực hiện : Nguyễn Thị Xuân Hiền

Chức vụ        : Giáo viên

Năm học: 2010 - 2011

Add comment


Security code
Refresh

Giao lưu - Chia sẻ

Ảnh đẹp

  • dh.jpg
  • dh1.jpg
  • dh2.jpg
  • dh3.jpg
  • dh4.jpg
  • dh5.jpg
  • dh6.jpg
  • dh7.jpg
  • dh8.jpg
  • dh9.jpg
  • dh10.jpg
  • dh11.jpg
  • dh12.jpg
  • dh13.jpg
  • hat.jpg
  • hat1.jpg
  • hat2.jpg
  • hat3.jpg
  • hat4.jpg
  • ht.jpg

Thống

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay27
mod_vvisit_counterHôm qua237
mod_vvisit_counterTuần này866
mod_vvisit_counterTuần trước1430
mod_vvisit_counterTháng này5312
mod_vvisit_counterTháng trước6072
mod_vvisit_counterTất cả314929

Online (20 minutes ago): 11
Your IP: 54.204.178.31
,
Now: 2014-11-27 03:08