Xem kết quả: / 7
Bình thườngTuyệt vời 

Thực trạng công tác hòa nhập trẻ khiếm thính trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

TÓM TẮT

Trẻ khuyết tật là đối tượng thiệt thòi nhất trong số những trẻ em thiệt thòi. Trẻ khuyết tật thường được phân thành các nhóm: trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ khó khăn về học, trẻ khó khăn về vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác.

Dưới góc độ giáo dục, trẻ khuyết tật được hiểu là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, suy giảm về chức năng cơ thể dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tập thể, xã hội và học tập theo chương trình giáo dục phổ thông. Việt Nam có gần 1 triệu trẻ khuyết tật từ 0-16 tuổi, vẫn có

hơn 800 nghìn trẻ khuyết tật chưa được đến trường. Số trẻ khuyết tật đã đi học có tới 32,99% số trẻ bỏ học, còn khoảng 2,57% số trẻ em chưa có cơ hội đến trường vì lý do khuyết tật, trong đó trẻ khiếm thính chiếm hơn 12%. Nước ta hiện có hơn 100.000 trẻ khiếm thính trong độ tuổi đi học.Với số lượng lớn như vậy, giáo dục cho trẻ khiếm thính là điều trăn trở lớn; Thế nhưng, việc giáo dục các em trở thành người có ích vẫn chưa được chú trọng và chưa có hệ thống toàn diện.

Công tác giáo dục hòa nhập ( GDHN )cho trẻ khiếm thính là điều trăn trở đối với những người làm công tác hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật hiện nay. Công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính đóng vai trò quan trọng và mang nhiều ý nghĩa không chỉ đối với trẻ khiếm thính mà còn cả với gia đình các em và toàn xã hội. Đề tài này nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính tại các trường phổ thông và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính trên địa bàn TỈnh Đăklăk.

 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trẻ khiếm thính là những trẻ bị tổn hại cơ quan thính giác ở các mức độ khác nhau. Do cơ quan thính giác bị tổn thương nên trẻ không tri giác được thế giới âm thanh, không nghe được tiếng nói, do đó không hình thành được ngôn ngữ. Vì vậy, trẻ khiếm thính nếu được quan tâm hỗ trợ với phương pháp, cách thức đặc biệt sẽ càng có cơ hội phát triển và phát huy hết khả năng mà trẻ có thể.

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục nói chung, giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt được những thành quả quan trọng về nhiều mặt, việc giáo dục người khuyết tật nói chung và sự phát triển ngành giáo dục đặc biệt nói riêng đang được các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước chú trọng phát triển. Nhiều trường Đại học, Cao đẳng bắt đầu mở các khóa đào tạo chính quy và không chính quy chuyên ngành Giáo dục đặc biệt để đáp ứng việc đáp ứng đội ngũ giáo viên cho các trường chuyên biệt và nhu cầu về trường hoà nhập ngày càng gia tăng nhằm hoà nhập cho học sinh có nhu cầu đặc biệt mà trước đây những học sinh này được học riêng biệt trong trường chuyên biệt. Mạng lưới các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành và đang phát triển. Các chương trình giáo dục trẻ khuyết tật được xây dựng và triển khai thực hiện cùng với các phương thức phù hợp đang ngày càng được áp dụng rộng rãi. Số trẻ khuyết tật đi học ngày càng tăng. Đến nay có hơn 269 nghìn trẻ khuyết tật được đi học trong các trường, lớp hòa nhập và bảy nghìn trẻ trong các trường chuyên biệt trên toàn quốc.

Giáo dục hòa nhập cũng đứng trước những thời cơ lớn, hàng loạt các thành tựu trong nhiều lĩnh vực từ hệ thống quản lý, chính sách đến các giải pháp kỹ thuật trong dạy học. Từ những hoạt động giáo dục mang tính thử nghiệm cho đến tính phổ thông rộng rãi trong toàn quốc.

Ở Đăklăk công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính đang triển khai trong quy mô của chương trình giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. Từ hình thức giáo dục trường chuyên biệt ban đầu vào năm 2001 với số lượng  trẻ khuyết tật ít ỏi, cho đến nay với quy mô là đơn vị Trung tâm cũng đã áp dụng nhiều mô hình giảng dạy và hỗ trợ trẻ, đã có trên 6 lượt trẻ khiếm thính từ Trung tâm ra học ở các trường phổ thông với số lượng trên 150 em. Trên địa bàn tỉnh, nhiều trường đã thành công trong việc hòa nhập học sinh khuyết tật về mặt thể chất, cùng những yêu cầu trong kế hoạch chống phân biệt đối xử với người khuyết tật  được ghi nhận. Tuy nhiên công tác này vẫn chưa được triển khai rộng rãi và hiệu quả chưa cao, một số cán bộ quản lý , giáo viên các nhà trường, cha mẹ trẻ chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục hòa nhập, chưa có kiến thức về tật điếc, về trẻ khếm thính và khả năng tham gia hòa nhập của các em. Nhiều trẻ khiếm thính chưa được hỗ trợ hòa nhập từ phía giáo viên và bạn bè trong nhà trường, các em gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt và học tập.

Là cán bộ quản lý đơn vị dạy trẻ khuyết tật và tham mưu tổ chức hoạt động hỗ trợ hòa nhập trẻ khuyết tật của tỉnh Đăklăk, Tôi thấy rõ nhu cầu được phát triển mọi mặt của trẻ khuyết tật, nhất là trẻ khiếm thính ngày càng cao; trong khi lượng trẻ khuyết tật ra lớp ngày một nhiều, các đơn vị có trẻ  khiếm thính học hoà nhập còn lúng túng trong công tác quản lý, hỗ trợ các em học tập. Ở đây Tôi muốn đề cập đến việc làm sao công tác giáo dục hòa nhập đã, đang và sẽ luôn làm tiền đề để trẻ khiếm thính cũng có cơ hội, khả năng phát triển một phần như trẻ bình thường khác.

Vì những lí do trên, nên Tôi chọn đề tài “Thực trạng giáo dục hoà nhập trẻ khiếm thính trên địa bàn tỉnh Đăklăk”

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực tế công tác giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thính tại các trường phổ thông, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển công tác giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thính học tại các địa phương trên địa bàn tỉnh, áp dụng thực hiện công tác tham mưu cho Sở Giáo dục và đào tạo chỉ đạo tập trung, hiệu quả hơn.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục trẻ khiếm thính từ Trung tâm HTPT GDHN trẻ khuyết tật Đăklăk và thời gian đưa các em tham gia học hoà nhập tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh.

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác GDHN cho trẻ khiếm thính ở 10 đơn vị các Huyện Krông Pách, CưMgar, Eahleo, Krông năng, Eaka, Krông Buk, Buôn Ma Thuột và Huyện ĐăkMin của tỉnh Đăknông..

4. Giả thuyết khoa học:

Trẻ khiếm thính trong dộ tuổi phổ thông như trẻ bình thường khác cũng có sự phát triển đạt tốc độ nhanh nhất về tất cả mọi mặt. Đây cũng là thời gian hình thành nền tảng cho cuộc sống tương lai của trẻ.

Công tác GDHN trẻ khiếm thính trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế: Về công tác nghiên cứu, kỷ năng sư phạm để dạy trẻ có nhu cầu đặc biệt một số quan niệm về vấn đề Giáo dục hòa nhập và thông tin để đáp ứng nhu cầu của học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt chưa đầy đủ, phong cách học tập của trẻ khác nhau, chưa hình thành được các mối quan hệ phối hợp hữu cơ chặt chẽ, giáo dục trẻ khuyết tật khiếm thính ở bậc học cao dần lên chưa có giải pháp. Do cha mẹ trẻ không quan tâm hoặc không hiểu biết gì về chương trình và công tác giáo dục hòa nhập; do kinh tế của gia đình... Nếu công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính được quan tâm, phát triển đúng mức sẽ đem lại nhiều lợi ích cho trẻ khiếm thính, tạo tiền đề cho trẻ khiếm thính được đi học, học tốt  và hoà nhập xã hội.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về công tác GDHN trẻ khiếm thính.

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác GDHN trẻ khiếm thính ở 10 huyện có học sinh khiếm thính học hòa nhập ở bậc học tiểu học và trung học cơ sở

- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển công tác GDHN trẻ khiếm thính trên địa bàn .

6. Phạm vi nghiên cứu:

-  Thực trạng công tác GDHN trẻ khiếm thính ở Đăklăk.

7. Phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: thu thập tài liệu tiến hành đọc, phân tích tổng hợp hệ thống hoá, khái quát hoá, phân tích, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn.

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn, thống kê.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Cơ sở lí luận

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, mô hình giáo dục hoà nhập dành cho trẻ khuyết tật nhẹ và vừa, có khả năng theo học tại các trường phổ thông cơ sở ở cộng đồng cùng với trẻ em bình thường đang được tiến hành ở hơn 40 tỉnh, thành trong nước

thu hút hơn 50.000 trẻ em khuyết tật. Đây là hình thức giáo dục trẻ khuyết tật đỡ tốn kém kinh phí đầu tư và đem lại hiệu quả xã hội tốt. Hình thức giáo dục này giúp được rất nhiều trẻ khuyết tật đến trường, được vui chơi với các bạn, được hoà nhập cộng đồng, xoá đi những mặc cảm, có ý thức vươn lên tự lập trong cuộc sống và nhiều em đã trưởng thành. Trẻ khuyết tật đã phát triển tốt hơn khi được sống trong môi trường gia đình, không bị tách rời khỏi cộng đồng. Đồng thời, đây cũng là cơ hội giáo dục cho trẻ em bình thường bài học về lòng nhân ái, biết thông cảm với những mất mát thiệt thòi của bạn mình, từ đó có hành động giúp đỡ thiết thực.

Cũng còn có nhiều ý kiến về việc đưa học sinh khuyết tật vào học hòa nhập có làm tăng hiệu quả giáo dục hay không và thiếu dẫn chứng về sự thành công của chính sách đưa trẻ vào học hòa nhập như vậy. Giáo viên các trường phổ thông tỏ rõ nghi ngờ, yêu cầu bổ sung thêm nguồn lực đáng kể trong các trường có học sinh học hòa nhập và chỉ ra rằng phần lớn giáo viên chưa qua đào tạo cho việc áp dụng những phương pháp hiệu quả về mặt sư phạm để dạy học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt. Ngoài ra còn có áp lực giữa động cơ hòa nhập với trọng tâm hiện tại là chỉ tiêu “đầu ra” đơn giản.

1.2. Lợi ích của "Giáo dục hòa nhập: Có rất nhiều lợi ích của việc giáo dục hòa nhập – những lợi ích ảnh hưởng đến cả trẻ khuyết tật và trẻ bình thường cũng như phụ huynh và giáo viên của trẻ. Ở đây  Tôi xin đề cập đến 2 lợi ích lớn nhất: Đó là lợi ích ảnh hưởng đến trẻ khuyết tật và trẻ bình thường

trong lớp học chung với trẻ khuyết tật.

+ Giáo dục hòa nhập giúp trẻ khuyết tật:

Việc tham gia lớp hòa nhập như một thành viên được tiếp đón ân cần dạy cho trẻ có những nhu cầu đặc biệt tính tự lực và giúp chúng nắm vững những kỹ năng mới. Đối với một số trẻ, đó có thể là lần đầu tiên trong đời chúng được mong đợi và khuyến khích là những điều chúng có thể làm cho bản thân. Làm việc và vui chơi với những trẻ khác khuyến khích trẻ khuyết tật phán đấu để đạt được những thành tích lớn hơn. Do đó chúng phát triển

được ý thức cái tôi khỏe mạnh và tích cực.

Nếu cứ sống và học tập mãi với bạn bè khuyết tật trong môi trường chuyên biệt, trẻ sẽ không bao giờ khám phá ra những khả năng tiềm tàng mà chúng có. Vì vậy, việc học tập trong một lớp hòa nhập với trẻ bình thường giúp cho trẻ hiểu đúng về năng lực của mình, từ đó chúng có thể tìm được cách phát huy những tiềm năng này và tự phát triển. Điển hình: một trẻ khiếm thính sẽ rất khó phát hiện ra khả năng nhận biết từ ngữ diễn đạt bằng việc mấp máy môi, hay mình có thể không làm giàu được vốn ngôn ngữ ký hiệu của bản thân nếu không sinh hoạt với trẻ bình thường cùng tuổi. Việc hòa nhập trẻ khuyết tật giống như một thứ nhớt làm trơn quá trình lĩnh hội kỹ năng sống của chúng. Khi trẻ gia nhập trường tiểu học, Giáo viên có thể quan sát và so sánh nhiều trẻ cùng độ tuổi, cùng lớp học. Điều này làm cho việc phát hiện những vấn đề cho thấy khả năng nào đó trở nên dễ dàng hơn. Đó có thể là cơ hội mà một só trẻ nhận được để phát triển những khả năng

mà chúng cần.

+ Giáo dục hòa nhập giúp đỡ trẻ bình thường:

Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không khuyết tật nữa. Chúng học cách vui vẻ tiếp nhận những sự khác biệt đặc biệt của con người. Thái độ của trẻ bình thường đối với trẻ khuyết tật có thể trở nên tích cực hơn khi chúng có cơ hội chơi chung với nhau một cách thường xuyên. Chúng học được rằng trẻ khuyết tật, cũng như chúng, có thể làm một số việc tốt hơn những việc khác. Trong một lớp hòa nhập, chúng có cơ hội làm bạn với nhiều trẻ khác nhau.
Chúng ta biết rằng, sự thân ái là viên gạch đầu tiên giúp xây dựng lòng nhân hậu và vị tha cho trẻ. Do đó, khi học trong cùng một lớp với trẻ khuyết tật, trẻ bình thường sẽ học được cách nhìn nhận một cách rộng lượng và đối xử nhân hậu với trẻ khuyết tật. Cũng chính vì vậy, chúng sẽ làm giàu được vốn sống của mình. Đôi khi phụ huynh trẻ khuyết tật có thể lo lắng rằng con họ sẽ không được những trẻ khác thích và chấp nhận, có khi còn bị ăn hiếp, đối xử thô bạo hay trêu chọc. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng, một trong những điểm mạnh của trẻ em là chúng rất dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới nên lo lắng này có thể khắc phục được.

Thực tế, một số trẻ không tỏ ra thân thiện, nhưng đây không phải là vấn đề chỉ xảy ra với trẻ khuyết tật. Đó không phải là lý do để né tránh lớp học, lại càng không phải lý do để lẩn tránh cả thế giới còn lại. Dù sao đi nữa thì trẻ khuyết tật rất cần được tiếp cận với cuộc sống bình thường bởi vì một lẽ: “Cuộc sống là một món quà phải được mở bởi chính đôi bàn tay của các em.”

1.3. Một số vấn đề chung về trẻ khiếm thính

* Khái niệm trẻ khiếm thính: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp.

1.2.1 Nguyên nhân gây ra khiếm thính

Trước khi sinh: Nhiễm độc: khi mang thai người mẹ bị nhiễm độc, dùng thuốc sai; Những bệnh do virus gây nên do quai bị, cúm, sởi; Bẩm sinh: mất hoặc giảm khả năng do khiếm khuyết về cấu trúc cơ quan thính giác, di truyền

Sau khi sinh: Do di chứng của viêm não, viêm màng não, sởi, các bệnh khác như quai bị, cúm; do chấn thương: va đập, tiếng động quá lớn; sử dụng thuốc không đúng: nhiễm độc, thuốc kháng sinh; do bị còi xương nặng...

1.2.2 Đặc điểm tâm lí của trẻ khiếm thính

- Cảm giác và tri giác: Qúa trình nhận thức thiếu sự tham gia của thính giác. Thị giác tinh nhạy do có sự bù trừ. Ngoài ra cảm giác vận động, cảm giác xúc giác trở nên quan trọng, là nền tảng cho trẻ học ngôn ngữ.

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của trẻ điếc nghèo nàn, đơn điệu.

- Trí nhớ: Ghi nhớ máy móc, không bền vững

- Tư duy: đơn giản, rập khuôn

- Về tưởng tượng: Khả năng tưởng tượng hạn chế. Trẻ không hiểu được các ý ẩn dụ, nghĩa bóng của từ, những biểu thị tượng trưng.

Mỗi người trong chúng ta đều có cá tính, sở thích, thị hiếu khác nhau, trẻ khiếm thính cũng thế, chúng cũng có cách học khác nhau. Giáo viên và các bậc phụ huynh cần hiểu biết và đánh giá đúng những sự khác biệt này. Thông qua quan sát, các bậc cha mẹ, thầy cô có thể biết được con mình, học trò mình có dạng nổi trội về mặt nào theo Lý thuyết đa trí tuệ và chúng ta có thể phát triển các hoạt động phù hợp để phát triển khả năng của trẻ.

1.2.3 Đặc điểm phát triển thính giác và ngôn ngữ của trẻ khiếm thính:

Đã từ rất lâu, nhiều phương pháp giao tiếp dùng cách ra dấu bằng tay, nhìn môi người đang nói, cùng nhiều kiểu luyện nghe, luyện phát âm mang tính chất áp đặt đã được áp dụng trong các trường chuyên biệt dành riêng cho trẻ khiếm thính. Xu hướng hiện nay lấy phương pháp khẩu truyền với sự hỗ trợ của máy trợ thính làm phương tiện chủ yếu giúp trẻ rèn luyện khả năng nghe-nói.

Bên cạnh đó, cơ cấu giáo dục hòa nhập cũng bảo đảm cho trẻ khiếm thính có thể vào học chung trong những trường, lớp dành cho trẻ em bình thường với cùng một giáo trình như nhau. Điều khác biệt cơ bản là trẻ khiếm thính cần nhiều thời gian hơn để tiếp thu và cần có thêm sự hỗ trợ từ phía các giáo viên chuyên ngành, nhà thính học và chuyên viên chỉnh âm.

Trẻ khiếm thính cần được thông cảm và được yêu thương, và cần được cư xử như những con người bình thường. Không những chỉ giúp trẻ học ngôn ngữ, chúng ta còn phải chú trọng tất cả các mặt phát triển khác của trẻ về thể chất, tinh thần, trí thông minh và kỹ năng giao tiếp xã hội. Tuỳ theo khuynh hướng và khả năng, trẻ có thể được tiếp tục học lên các bậc cao đẳng, đại học hoặc được đào tạo một nghề nghiệp thích hợp để sau này tự nuôi sống bản thân, có ích cho gia đình và xã hội. Ở các nước, luật pháp có những điều qui định cụ thể bảo đảm cho trẻ khiếm thính, cũng như những trẻ khuyết tật khác, có quyền học tập và sau này tham gia các ngành nghề lao động như những người bình thường.

Hầu hết các bậc phụ huynh khi có con bị khiếm thính đều có chung tâm lý chấp nhận và khư khư giữ con ở nhà, “Chỉ mong muốn một điều duy nhất đó là con chăm ngoan và khỏe mạnh, còn việc học tập thì quá xa vời”. Cũng có nhiều phụ huynh lo ngại con mình sẽ bị bạn bè khinh thị khi học chung với các bạn bình thường. Khi đó, các em có thể trở nên mặc cảm, tự ti và khó tiếp xúc với mọi người xung quanh hơn. Do đó, nhiều người ủng hộ cách cho trẻ học ở trường chuyên biệt với các bạn bè đều là trẻ khiếm thính.     Thế nhưng, theo các chuyên gia, trẻ khiếm thính vẫn có thể học tập và làm việc như người bình thường nếu được dạy dỗ đúng cách. Bỏ qua những khó khăn như thiếu thốn vật chất và giáo viên của ngành giáo dục đặc biệt. Nếu được học hòa nhập, trẻ khiếm thính sẽ tự tin hơn và có điều kiện học cao hơn.

Hiểu tiếng nói trước hết là hiểu được âm phát ra, trẻ điếc không thể nghe hết được. Nhưng trẻ có khả năng đặc biệt để đọc hình miệng,
Qua hình miệng của người nói, trẻ có thể hiểu được nội dung câu nói chính xác đến 70-80%. Tùy theo trẻ được tập luyện nhiều hay ít, khả năng này mỗi ngày một phát triển và hoàn thiện. Sau khi ra trường hầu hết trẻ điếc có thể đọc được hình miệng thành thạo và tương đối chính xác.
Mặt khác, muốn hiểu được câu nói thì trẻ phải hiểu được nghĩa của từ, cụm từ, câu. Điều này trẻ sẽ được rèn luyện trong suốt quá trình học tập và giao tiếp với mọi người. Cách dạy trẻ hiểu nghĩa của từ ngữ, của câu nói, phải căn cứ vào những tình huống cụ thể. Tránh bắt trẻ học hiểu một cách máy móc, trẻ sẽ mau quên và sẽ không sử dụng được. Thông qua những tình huống cụ thể, xuất hiện những nhu cầu cần hiểu biết từ ngữ. Để thỏa mãn yêu cầu đó, từ ngữ xuất hiện, lúc này từ ngữ( chữ viết, tiếng nói) được gắn liền với ý nghĩa, cách dùng từ sẽ tạo cho trẻ hứng thú và tự trẻ ghi nhớ nó.
Đầu tiên là thời kỳ tiền ngôn ngữ, trẻ chỉ phát ra những âm chưa phải là ngôn ngữ nhưng nó thể hiện một nội dung nhất định nào đó. Tiếp đến là giai đoạn bập bẹ, trẻ phát ra những âm gần với ngôn ngữ. Cuối cùng, ngôn ngữ mới được hình thành: lúc đầu trẻ có thể nói chưa đúng, nhưng trong quá trình phát triển những lời này được hoàn thiện, chính xác dần.
Sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ điếc không thể nằm ngoài quy luật đó. Lúc đầu, ta không nên yêu cầu trẻ phảii nói đúng, cần có những châm chước nhất định. Đôi khi âm của từ phát ra, làm người nghe rất khó hiểu. Nhưng về sau, quá trình luyện tập, trẻ sẽ nói được. Khác với trẻ bình thường, trẻ điếc khong thể nói đúg như ngôn ngữ chuẩn mực được. Ta chỉ yêu cầu trẻ nói sao cho người nghe có thể phân biệt được, hiểu được nội dung câu nói.

1.3. Công tác GDHN cho trẻ khiếm thính

Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống. Giáo dục hòa nhập hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ khuyết tật, phát triển hết khả năng của mình, có cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù trong lớp học phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội.

1.3.1 Khái niệm GDHN trẻ khiếm thính:

Giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính là chương trình hướng dẫn hỗ trợ cho trẻ tham gia học hòa nhập trong các trường phổ thông, giúp các trường biết cách trực tiếp phối hợp giúp đỡ trẻ phát triển khả năng giao tiếp, khả năng nghe và nói tham gia học tập với cùng một giáo trình như nhau với trẻ bình thường cùng lớp.

Chương trình GDHN bảo đảm cho trẻ khiếm thính có thể vào học chung trong những trường lớp dành cho trẻ em bình thường. Trẻ khiếm thính phải được đưa vào các trường hòa nhập. Điều này làm cho các em nhận ra sự khiếm khuyết của mình và từ đó cố gắng hết sức để huy động sức mạnh của các cơ quan khác để đạt được những cái mà bình thường bạn đồng trang lứa của chúng làm được. Hơn nữa, ở trường hòa nhập chúng còn học được những kỹ năng sống thiết yếu của một người bình thường, chứ không phải của một người khuyết tật. Điều đó là vô cùng quan trọng.

1.3.2 Ý nghĩa của GDHN trẻ khiến thính:

- Đối với bản thân trẻ : Có thể ngăn ngừa những nhân tố nguy hiểm tới đứa trẻ, thực hiên chức năng chữa bệnh; ngăn cản việc chậm phát triển cũng như những khuyết tật khác gia tăng.

- Việc trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường phổ thông không chỉ tạo điều kiện giúp trẻ khuyết tật phát triển khả năng, mà còn là nơi giáo dục nhân cách và ý chí phấn đấu cho học sinh toàn trường.

- Đối với cha mẹ trẻ: Giảm bớt căng thẳng về vấn đề tình cảm của mình, cải thiện mối quan hệ cha mẹ và trẻ

- Đối với gia đình: Làm cho các thành viên trong gia đình ngày càng gắn bó, đoàn kết hơn, giảm nhẹ gánh nặng đối với vấn đề chăm sóc- giáo dục trẻ.

- Đối với xã hội : Có quan điểm, thái độ đúng đắn đối với trẻ khiếm thính nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung.

1.3.3 Qui trình GDHN trẻ khiếm thính.

- Bước 1: Tìm hiểu nhu cầu và khả năng của trẻ

- Bước 2:  Xây dựng mục tiêu, đánh giá ban đầu, xây dựng chương trình kế hoạch giáo dục cá nhân, thực hiện chương trình.

- Bước 3: Thực hiện kế hoạch giáo dục

- Bước 4:  Đánh giá kết quả tập trung vào các hệ thống chuyển tiếp cho trẻ từ chương trình CTS tới những bậc học tiếp theo.

1.3.4 Các mức độ hòa nhập

- Mức độ 1: Cơ học: là trẻ KT có mặt cùng các bạn khác

- Mức độ 2: xã hội: là trẻ có thể chơi cùng các bạn khác

- Mức độ 3: Văn hóa và học lực: Là trẻ khuyết tật có thể học cùng với các bạn khác( là mức độ cao nhất, là mục tiêu phấn đấu của quá trình GDHN)

1.3.5Trong việc tổ chức GDHN  cần lưu ý một số vấn đề hỗ trợ trẻ:

- Trẻ phải được hỗ trợ máy trợ thính để đeo thường xuyên.

- Đóng đế cao su vào chân bàn chân ghế cho trẻ ngồi.

- Bỏ dầu vào quạt máy trần, quạt đứng ở lớp để tránh tiếng ồn của động cơ.

- Bố trí chỗ ngồi phù hợp với trẻ.

- Chú ý độ sáng trong lớp (trẻ khó khăn nhìn hình miệng GV nếu phía sau     lưng GV quá sáng)

- Xây dưng đôi bạn cùng học, cùng tiến, hoạt động vòng tay bè bạn.

- Trẻ học khái niệm, không đơn giản là ghi chép (hiểu)

1.4. GDHN cho  trẻ khiếm thính tại các trường phổ thông.

Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi học sinh: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội. Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng.

Ảnh hưởng của tật điếc đối với sự phát triển ngôn ngữ nói rất lớn, trẻ khiếm thính bị suy giảm khả năng hoạt động ngôn ngữ, do vậy các hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn so với trẻ bình thường. Các em thường mặc cảm về khuyết tật của mình, ít giao tiếp. Điều khác biệt cơ bản là trẻ khiếm thính cần nhiều thời gian hơn để tiếp thu và cần có thêm sự hỗ trợ từ phía các giáo viên chuyên ngành. Nếu trẻ khiếm thính được trang bị những kỹ năng cần thiết từ trường chuyên biệt cùng với ý chí của bản thân thì vẫn có thể theo kịp và hòa nhập tốt.

Biết trước rất vất vả và khó khăn song với nhiều học sinh khiếm thính có khả năng giao tiếp tốt thì học ở trường hòa nhập sẽ là cơ hội để các em phát triển hết khả năng, sau khi được dạy cách phát âm, nhìn môi đoán tiếng để có thể giao tiếp với người bình thường thì một số trẻ khiếm thính học hòa nhập được tốt hơn. Sau quá trình học hòa nhập với các học sinh bình thường khác, các em này đều có những tiến bộ rõ nét về nhận thức và suy nghĩ.

Phần lớn học sinh tại trường chuyên biệt không thể nói được ước mơ tương lai của minh. Nhưng sau khi học hòa nhập trở về, các em đã biết được mình sẽ làm gì. Điều đó có ý nghĩa rất lớn từ môi trường hòa nhập.         Cũng chính nhờ nỗ lực đưa các em tham gia học hòa nhập tại cộng đồng nơi sinh sống của gia đình các em mà thời gian qua, Tỉnh Đăklăk đã có 20 em khiếm thính có năng lực vào cấp II tiếp thu trình độ giảng dạy ở các các khối lớp đạt chất lượng, trên 40 em tham gia học nghề trưởng thành và đi làm việc tại các cơ sở ngoài cộng đồng. Có em tâm sự: “Học khó lắm. Phải chú ý vào môi thầy cô phát âm để nhận biết. Muốn bạn bè hiểu ý mình phải tự tập nói thật nhiều”.

Quan điểm ở các trường, cơ sở dạy người khiếm thính của nước ta là cấm các em sử dụng ngôn ngữ kí hiệu; mà khuyến khích các em tập nói với hy vọng sẽ giúp các em giao tiếp được với xã hội. Nghĩa là giáo viên sẽ giảng bằng miệng giống như là giảng cho học sinh nghe bình thường”(Đối với trẻ có hỗ trợ của máy trợ thính.  Riêng ở tỉnh Đăklăk, số trẻ khiếm thính được hỗ trợ máy rất ít do kinh tế gia đình khó khăn nên các em được khuyến khích sử dụng ngôn ngữ kí hiệu của riêng người khiếm thính, ngôn ngữ nói chỉ được sử dụng để ghi chép mà thôi.

Thời gian đầu, các thầy cô được tập huấn phải dành thời gian để học ngôn ngữ kí hiệu của các em. Sau đó, giáo viên sử dụng ngôn ngữ kí hiệu của các em để giảng bài nhưng chỉ áp dụng cách dạy này hết sức hiệu quả. Tại Trung tâm, các trường phổ thông có trẻ khiếm thính giáo viên vẫn còn lúng túng khi giao tiếp với trẻ, trong giờ học các em buộc phải theo các bạn trong lớp chỉ quan sát cô và thao tác của bạn để sao chép nên kết quả không đạt.

 

HSHN  Lê Trọng Nhân lớp 6 D Trường THCS ĐăkMol

huyện Đăksong Tỉnh ĐăkNông trong giờ học môn Văn

1.4.1 Vai trò và trách nhiêm của Giáo viên trong GDHN

Trẻ khiếm thính cần được thông cảm và được yêu thương, và cần được cư xử như những trẻ bình thường khác. Không những chỉ giúp trẻ học ngôn ngữ,  Giáo viên dạy hòa nhập còn phải chú trọng tất cả các mặt phát triển khác của trẻ về thể chất, tinh thần, trí thông minh và kỹ năng giao tiếp xã hội. Tuỳ theo khuynh hướng và khả năng, trẻ có thể được tiếp tục học lên các bậc cao đẳng, đại học hoặc được đào tạo một nghề nghiệp thích hợp để sau này tự nuôi sống bản thân, có ích cho gia đình và xã hội. Ở các nước, luật pháp có những điều qui định cụ thể bảo đảm cho trẻ khiếm thính, cũng như những trẻ khuyết tật khác, có quyền học tập và sau này tham gia các ngành nghề lao động như những người bình thường.

Nguồn lực quan trọng nhất giúp trẻ khuyết tật chính là năng lực chuyên môn nghề nghiệp của giáo viên, cả giáo viên GDHN và giáo viên hỗ trợ, những người vốn chưa được đào tạo về giáo dục đặc biệt hoặc rất ít người được đào tạo cơ bản.

Trong số trẻ khuyết tật đang học hoà nhập tại các trường phổ thông trong tỉnh hiện nay Trung tâm đang hỗ trợ hoà nhập nhiều và khó nhất là trẻ khiếm thính, mà đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy có vai trò quyết định hiệu quả của giáo dục hoà nhập:

* Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên dạy trẻ hòa nhập(các bộ môn)

Mất hoặc giảm đi khả năng nghe nên trẻ khiếm thính tiếp thu thông tin chủ yếu bằng thị giác, t­ư duy của trẻ khiếm thính mang tính trực quan nên trong quá trình học tập, giao tiếp tổng hợp trẻ phải vận dụng rất nhiều kỹ năng bổ trợ, người giáo viên trong quá trình giảng dạy cũng phải vận dụng nhiều phương pháp cũng như yếu tố tác động hỗ trợ khác, khái niệm ở trẻ khiếm thính có sự thiếu hụt đáng kể ( nhất là những khái niệm trừu tượng, tượng thanh)

- Giáo viên là người trực tiếp điều hành hoạt động dạy học hoà nhập nên giáo viên hiểu rõ nhất nhu cầu và năng lực của từng trẻ khuyết tật để xây dựng mục tiêu giáo dục phù hợp với từng trẻ.

- Cần phương pháp giáo dục dặc biệt phù hợp với trẻ và dành nhiều điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ. Biết sử dụng ký hiệu ngôn ngữ kí hiệu ngôn ngữ làm phương tiện trao đổi và giúp trẻ nắm được nội dung bài, kết hợp nói với hình vẽ, tranh ảnh trong phần giải thích từ, nắm nội dung để trẻ đọc được và đọc nội dung cô truyền đạt. huy hết sức nghe của học sinh để kết hợp nói - nghe phát trong quá trình theo dõi sức học của trẻ

- Có thêm dữ liệu cùng gia đình hỗ trợ trẻ trong quá trình nghe nói khi thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân, tạo niềm tin cho trẻ, khuyến khcíh trẻ tích cực học tập

- Giáo viên tổ chức và điều hoà các hoạt động học của học sinh, đặc biệt là học hợp tác nhóm.

- Trẻ khiếm thính: cần môi trường yên tĩnh, vì mọi âm thanh đều được khuyếch đại, làm đau tai( khi các em đeo máy trợ thính).

- Giáo viên làm hồ sơ theo dõi sự tiến bộ của HS gồm( Sổ theo dõi, sơ yếu lý  lịch, phiếu tìm hiểu KN-NC, kế hoạch GDCN).

- Làm sổ liên lạc với gia đình học sinh.

- Xây dựng vòng tay bạn bè, nhóm bạn cùng học… ngay đầu năm học.

- Biết điều chỉnh nội dung, chương trình và yêu cầu phù hợp với khả năng của học sinh.

- Tổ chức cho trẻ KT học tập với trẻ bình thường thoải mái, nhẹ nhàng.

- Phát hiện những điểm tiến bộ hằng ngày của trẻ để động viên kịp thời, gây hứng thú cho trẻ tham gia học tập tốt hơn.

- Thiết lập và duy trì mối quan hệ với các đồng nghiệp trong trường trao đổi học tập kinh nghiệm của nhau.

- Thường xuyên báo cáo kết quả với BGH, đặc biệt là HT để tranh thủ sự giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường tạo điều kiện quản lý lớp học tốt hơn.

 

 

HSHN Nguyễn Thị Vân (áo trắng) lớp 5 trường tiểu học Lê Đình Chinh

Xã Eawy huyện EaHleo trong giờ học toán với cô chủ nhiệm.

*Giáo viên hỗ trợ cấp tỉnh

- Hỗ trợ Giáo viên đánh giá trẻ, xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho các em có nhu cầu giáo dục đặc biệt. Hỗ trợ Giáo viên GDHN điều chỉnh chương trình học của trẻ, phù hợp với kế hoạch GD cá nhân

- Trực tiếp dạy tiết cá nhân cho trẻ tại trung tâm, tại lớp học hoặc tại nhà, hướng dẫn,  giám sát hỗ trợ các Giáo viên thực hiện tiết học cá nhân.

- Quan sát trẻ học hoà nhập và nhận xét, giúp giáo viên dạy trẻ hiệu quả hơn(qua dự giờ trao đổi...)

- Thực hiện tư vấn phụ huynh.

- Thu thập và ghi chép thông tin về thực hiện GDHN và về sự phát triển của trẻ tại các trường để tổng kết thành kiến thức chuyên môn.

- Phát hiện vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện GDHN để đề xuất giải pháp tháo gỡ.

- Tham gia đánh giá nhu cầu bồi dưỡng của Giáo viên GDHN các cấp.

*Giáo viên hỗ trợ cấp huyện: Thực hiện các nội dung được hướng dẫn từ  Giáo viên cấp tỉnh , còn tham gia một số nội dung:

- Trực tiếp dạy và quản lý trẻ KT

- Giúp trường vệ tinh, trường HN xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý hs KT

- Tham gia và duy trì sinh hoạt chuyên môn định kỳ với Giáo viên của trung tâm.(Sinh hoạt chuyên môn cùng nhau để học hỏi nâng cao trình độ, làm phong phú kinh nghiệm GDHN, phụ huynh, cán bộ y tế..)

- Tham gia phát hiện các vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện GDHN và phản ánh lên cấp tỉnh.

1.4.2 Nội dung hỗ trợ hòa nhập trẻ khiếm thính:

Giáo dục hòa nhập thừa nhận mọi trẻ em là khác nhau, và nhờ sự khác nhau đó có thể đóng góp để tạo ra một môi trường nhà trường tốt hơn cho tất cả mọi trẻ. Điều này khẳng định rằng sự khác biệt giữa các cá nhân là bình thường và nhấn mạnh tính đa dạng. Do đó, công tác giáo dục và dạy học cần được điều chỉnh cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của từng cá nhân.

*Sở GD ĐT:

- Tiếp nhận sự chỉ đạo hướng dẫn của Bộ GD ĐT về thực hiện GDHN  trong đó có trẻ khếm thính

- Quản lý chỉ đạo (lập kế hoạch, triển khai, giám sát, đánh giá), xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện GDHN

- Quản lý cơ sở dữ liệu về trẻ KT và GDHN của tỉnh. (bao nhiêu em, phân bổ theo huỵên và loại tật, % đi học)

* Phòng GD ĐT:

-Tiếp nhận sự chỉ đạo hướng dẫn của Sở GD ĐT về thực hiện GDHN

- Quản lý việc thực hiện GDHN, theo dõi việc thực hiện các hướng dẫn của Sở và phản hồi

- Quản lý thông tin về trẻ KT đi học hoà  nhập và  chưa đi học (bao nhiêu em, học trường nào, loại tật gì)

- Tổng kết kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật và hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên GDHN

- Thực hiện chuyển giao chuyên môn kỹ thuật về giáo dục trẻ khuyết tật

- Quản lý hoạt động của giáo viên hỗ trợ cấp tỉnh

- Tham gia quản lý cơ sở dữ liệu và thông tin về trẻ khuyết tật đang theo học hòa nhập của cả tỉnh.

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho gv hỗ trợ cấp tỉnh và huyện

- Phát hiện vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện GDHN, đề xuất giải pháp, hoặc thảo luận để tìm giải pháp.

- Đánh giá nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên GDHN, giáo viên hỗ trợ cấp huyện và các trường có trẻ học hòa nhập, xây dựng kế hoạch phát triển  phát triển các kiến thức chuyên môn về GD trẻ khuyết tật.

- Thay mặt Sở GD& ĐT làm việc các bên liên quan ngoài ngành  và Phòng GD&ĐT, các trường về  thực hiện GDHN

*Gia đình trẻ khiếm thính:

- Gia đình đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đứa trẻ. Đây là môi trường phù hợp với sự phát triển của trẻ., ở đó trẻ có được cảm giác an toàn, trẻ được lớn lên trong tình thương của những người ruột thịt; được nuôi dưỡng theo phương thức đặc biệt. Gia đình còn là môi trường phong phú tạo nhiều cơ hội để trẻ học tập được những kinh nghiệm sống cần thiết.

Đầu năm học các năm, bộ phận làm công tác chuẩn bị kỹ năng cho trẻ khuyết tật hòa nhập vào các bậc học từ lớp một, đồng thời bàn về sự chuẩn bị hồ sơ, kết quả học tập và các bước chuyển giao trẻ về các trường học. Phụ huynh tìm hiểu và lựa chọn trường cho trẻ làm sao thuận lợi cho vịêc chăm sóc và phối hợp cùng nhà trường giúp trẻ tham gia học và được

hỗ trợ tốt nhất. Cả quá trình ghi nhớ và so sánh sự tiến bộ của  trẻ theo thời gian mà trẻ trãi qua. Đó chính là hạnh phúc của gia đình, là niềm vui và sự

phát triển của trẻ.

Trước khi đến trường, do khả năng giao tiếp bị hạn chế, trẻ khuyết tật thính giác thường có rất ít bạn đồng lứa. Để tránh những mặc cảm ban đầu, ngoài việc chuẩn bị học cụ cần khuyến khích, động viên trẻ. Trong quá trình tổ chức hỗ trợ các giáo viên và gia đình giúp cho trẻ tìm những bạn gần nhà để cùng đi học và giúp đỡ trẻ mỗi khi đến trường.

*Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân”.

Không phải mọi trẻ KT đều có thể đạt được tới mức độ hòa nhập cao, cho nên không thể đồng nhất chất lượng của GDHN với mức độ  hòa nhập. Chất lượng của GDHN là khả năng đáp ứng nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ và mức độ hiện thực hoá tiềm năng của trẻ thành khả năng thực tế của trẻ.

Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân là việc làm rát quan trọng trong GDHN trẻ khiếm thính. Để làm được việc này, trước hết cần cơ chế để tập hợp các nguồn lực cần thiết thực hiện đồng bộ, sát sao nội dung được đúc rút trong thời gian qua về dạy các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho trẻ khiếm thính, tạo tiền đề giúp đỡ các em học tốt, thực hiện tốt việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cá nhân cho từng trẻ, giúp trẻ khuyết tật từng bước hòa nhập được với môi trường sinh hoạt tập thể. Một số trường tại huyện Krông Năng, CưMgar, Lăk không có phòng hỗ trợ đặc biệt đã tận dụng các phòng chức năng, phòng bộ môn hoặc phòng ban giám hiệu để thực hiện tiết cá nhân cho trẻ.

Đối với trẻ em điếc, khả năng ngôn ngữ hạn chế dẫn đến sự kém phát triển của tư duy và do đó các em không thể tiếp thu được các khái niệm trừu tượng, mặc dù về tiềm nằng nhiều em rất thông minh. Nếu được giáo dục tốt, nhiều trẻ em điếc vẫn có thể trở thành nhà văn, bác sĩ. Trong trường hợp đó có thể nói là GDHN thành công, có chất lượng. Kết quả giáo dục được đo bằng mức độ hiện thực hoá khả năng của từng cá nhân trẻ KT. Nếu chúng ta phát triển tối đa các tiềm năng của các em, có thể nói là em đã được giáo dục có chất lượng.

*Điều chỉnh mục tiêu giáo dục cho trẻ khuyết tật không thể giống như mục tiêu giáo dục chung, không thể chỉ tính đến số lượng kiến thức khoa học mà trẻ khuyết tật có thể thu nhận được mà còn phải tính đến cả kinh nghiệm, kỹ năng sống cần thiết các em có thể và chỉ có thể học được khi

được giáo dục trong nhà trường.

*Thay đổi lại tiêu chí đánh giá và xây dựng kế hoạch đánh giá định kỳ.
Hiện nay chỉ có một tiêu chí đánh giá chung cho cả hai loại lớp có trẻ khuyết tật và lớp học bình thường. Song thực tế thì các lớp có trẻ khuyết tật thường mất thành tích do chỉ số thi đua thường đạt thấp hơn những lớp học sinh bình thường. Điều đó cho thấy cần phải thay đổi tiêu chuẩn đánh giá đối với các lớp, trường nhận trẻ khuyết tật. Nên có sự khuyến khích các lớp có trẻ khuyết tật mặc dù một số tiêu chí có thể thấp hơn các lớp bình thường.

Cần xây dựng kế hoạch đánh giá định kỳ về sự phát triển các chức năng tâm lý của trẻ khuyết tật, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch giáo dục chức năng. Tạo những điều kiện thuận lợi về môi trường giáo dục, chương trình học tập, những thiết bị hỗ trợ cần thiết cho trẻ tiếp cận được với các dịch vụ giáo dục hoà nhập tuỳ thuộc theo năng lực của trẻ. Đây là khâu cuối cùng trong một chuỗi liên hoàn tác động của các yếu tố nhằm mục tiêu tạo cuộc sống độc lập cho khuyết tật. Cần phải có chính sách trợ giúp cho trẻ, trên cơ sở  xây dựng chương trình chuyển tiếp cho trẻ khuyết tật.    
1.4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính: Môi trường hòa nhập, nhận thức của cha mẹ trẻ khiếm thính; nhận thức về giáo dục hòa nhập của quản lý và giáo viên các trường phổ thông. Công tác chăm sóc thính học; Khả năng của trẻ khiếm thính Điều kiện kinh tế ..  Nếu được học hòa nhập, trẻ khiếm thính sẽ tự tin hơn và có điều kiện học cao hơn.

 

Hỗ trợ của giáo viên cho trẻ khiếm thính trong giờ học.

 

MẠNG LƯỚI HỖ TRỢ CHUYÊN MÔN CHO CÔNG TÁC  GDHN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chú thích:

- Hỗ trợ chuyên môn trực tiếp

- Hỗ trợ chuyên môn gián tiếp

- Quản lý chỉ đạo

- Phối hợp, chia sẻ thông tin, hợp tác

2. Thực trạng công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính tại Đăklăk:

Tháng 12 năm 1999  viện chiến lược và chương trình Giáo dục đến DakLak tập huấn cho 29 giáo viên chủ chốt thuộc TP Buôn Ma Thuột, Huyện Cưjut, Huyện DakNông, Huyện Krông Păk. Năm 2001 – 2004 Giáo dục hòa nhập mở rộng đến Huyện Lăk.  GDHN có nhiều ưu việt, được cộng đồng tích cực hưởng ứng, quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho GDHN hoạt động, đưa trẻ khuyết tật ra trường số trẻ khuyết tật ra lớp ngày càng đông.

Trong giai đoạn này, trường Hy Vọng ra đời, môi trường giáo dục, trường tạo nguồn trung bình hàng năm tiếp nhận khoảng 100 trẻ khuyết tật thính giác nặng, khiếm thị nặng. Tại đây các em được học tập theo chương trình phổ thông. Ngoài việc học tập các em còn được bồi dưỡng về môn mĩ thuật, âm nhạc, được phục hồi chức năng luyện nghe, nói, có phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, được rèn kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ …v…v…

Sau một thời gian được luyện tập, các em có khả năng học tập tốt được trường Hy Vọng chuyển về học hòa nhập tại các trường phổ thông gần nơi các em sinh sống Hằng năm có khoảng từ 20 – 30 em được chuyển sang học trường hòa nhập.

Để tránh sự ngỡ ngàng và để giải quyết những bất cập, thời gian đầu khi trẻ vào học hòa nhập, trẻ vẫn được giáo viên chủ nhiệm trẻ ở trường Hy Vọng đến thăm trẻ, đến trao đổi, giúp giáo viên chủ nhiệm lớp hòa nhập giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ.

Năm 2005 GDHN mở rộng đến Huyện KrôngBông, Huyện CuMnga,  Năm 2006 tiến hành mở GDHN thêm các huyện MaDrak, huyện Buôn Đôn.

Hiện nay hiệu quả GDHN tỉnh DakLak được cộng đồng đánh giá rất cao, được các tỉnh bạn đến tìm hiểu, học tập kinh nghiệm,.

Đối với trẻ khiếm thính tỉnh Đăklăk , Trung tâm hỗ trợ phát triển  giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tỉnh được giao nhiệm vụ như trung tâm nguồn để làm nhiệm vụ đo thính lực, cấp máy trợ thính, sửa chữa máy trợ thính hỏng cho TKT ở tất cả huyện, thị trong tỉnh. Để tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi, học hỏi chuyên môn GDHN qua hoạt động các chuyên đề. Hằng quý, các giáo viên cốt cán của các trường  vệ tinh trong 5  huyện dự án tham gia sinh hoạt chuyên môn,  tổ chức sinh hoạt các chuyên đề dưới hình thức  trực tiếp , có bổ sung, góp ý, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, phương pháp giao tiếp tổng hợp, sử dụng đồ dùng dạy học, về khả năng phát âm, nói, nhận biết ngôn ngữ qua hình miệng của GV.... nhằm điều chỉnh hoạt động dạy học, đánh giá trẻ khuyết tật học hòa nhập.

Song bên cạnh đó, cán bộ trung tâm còn tổ chức hướng dẫn GV, phụ huynh, học sinh khiếm thính và bạn thân của các em về khả năng giao tiếp, thực hành các phương pháp giúp trẻ khiếm thính học ở lớp học và tại nhà. Với những hoạt động trên, từ năm học 2003 đến nay  đã có 150 trẻ khiếm thính được hỗ trợ hòa nhập  với kết quả khả thi.

Qua 10 năm thực hiện dự án  Đăklak có 233 Trẻ khiếm thính được đến trường. phát huy kết quả trên, Sở GD-ĐT đã chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong đó có trẻ khiếm thính vào cộng đồng trên toàn tỉnh và cũng đã có những hỗ trợ tích cực tạo sự đồng bộ trong công tác chỉ đạo trong toàn ngành.

Phần lớn học sinh học tại Trung tâm  không thể nói được ước mơ tương lai của minh. Nhưng sau khi tham gia học hòa nhập trở về, các em đã biết được mình sẽ làm gì. Điều đó có ý nghĩa rất lớn từ môi trường hòa nhập.

Năm học 2005 – 2006, Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo thực hiện chủ trương đưa tất cả các trẻ khuyết tật vào học tập, hòa nhập trong các trường phổ thông hoặc trường chuyên biệt theo địa bàn cư trú.
Theo đó, các trường phổ thông  tăng cường vận động trẻ khuyết tật đi học, không được từ chốI tiếp nhận học sinh khuyết tật cư ngụ trên địa bàn của trường khi chưa có ý kiến của Phòng GD-ĐT và Sở GD-ĐT.
Tuy vậy, khác với mô hình giáo dục hoà nhập, mô hình giáo dục chuyên biệt lại có một số hạn chế: Chi phí xây dựng, trang thiết bị, bộ máy tổ chức cho các trường chuyên biệt dạy trẻ em khuyết tật lớn, nhưng chỉ thu hút được một số lượng quá ít trẻ em khuyết tật (khoảng 0,3% trong tổng số trẻ khuyết tật).

Thực hiện quyết định số 2646/ QĐ/UBND ngày 19 tháng 10 năm 2007 của Uỷ ban nhân dânTỉnh Đăklăk, Trường nuôi dạy trẻ khuyết tật Hy vọng nay có tên mới là Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập trẻ

 

khuyết tật. Trung tâm bắt đầu tham mưu cho Sở Giáo dục Đào tạo chi đạo về GDHN của Tỉnh Đăklăk và được Bộ GD ĐT đánh giá  là một trong những tỉnh làm tốt công tác giáo dục cho trẻ khuyết tật trong cả nước

Theo thống kê hiện nay: Đăklăk có số trẻ khuyết tật được huy động đến trường cao so với con số trung bình của cả nước, trong đó trẻ khiếm thính chiếm 40% và có tổ chức mạng lưới hỗ trợ hòa nhập cùng đội ngũ giáo viên chuyên làm công tác hỗ trợ hòa nhập.

Từ năm học 2009-2010 đã có số học sinh khiếm thính hộc hòa nhập ở bậc học Trung học cơ sở mà việc thí điểm triển khai mô hình vệ tinh chỉ đến tiểu học và số đơn vị vệ tinh chỉ nằm ở 5  đơn vị tham gia dự án. Đây là một thách thức lớn với công tác GDHN của tinh.

Cơ chế hoạt động hỗ trợ GDHN hiện nay của tỉnh đã thực hiện trên 5 năm nhưng vẫn còn là vấn đề mới mẻ, trên cơ sở những kinh nghiệm đã có trong thực tế làm việc tại các trường phổ thông và công tác can thiệp sớm  chưa đủ để khẳng định lộ trình nào là đúng nhất, là kim chỉ nam để áp dụng GDHN cho trẻ khiếm thính ở các bậc học trên địa bàn của tỉnh. Krông Păk và Buôn Ma thuột là những đơn vị có rất nhiều trường thực hiện và làm tốt công tác hỗ trợ trẻ khuýet tật học hòa nhập.

3.Kết quả quá trình khảo sát.

Tâm lý của trẻ khiếm thính rất bất ổn, một giáo viên bình thường phải được học đủ 4 năm mới có thể dạy được trẻ khuyết tật chứ không phải các lớp học bồi dưỡng trong thời gian hết sức ngắn ngủi 1-2 ngày tại Trung tâm như hiện nay. Có cô hiệu phó chuyên môn phát biểu:"Tôi rất thương giáo viên khi chứng kiến cô giáo sau khi đã qua khoá học bồi dưỡng rồi vẫn bất lực, bật khóc vì không sao có thể dạy được trẻ khiếm thính, chúng Tôi không có đủ giáo viên và điều kiện nhưng thiết nghĩ để dạy được các em cần phải có thêm một số chứng chỉ như: tâm lý trị liệu, giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu, thổ ngữ Việt Nam...

Ngoài những chính sách ưu đãi cho trẻ khuyết tật, cũng cần phải có những chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với giáo viên dạy trẻ khuyết tật, chẳng hạn như ưu tiên tuyển dụng về làm việc, chính sách lương, ưu tiên chọn trường… bởi thực tế hiện nay, không có bất cứ một chế độ chính sách nào hợp lý để động viên, khuyến khích giáo viên nên có rất nhiều cô giáo khi được hỏi đã trả lời thẳng thừng: ngại nhận trẻ khuyết tật vào lớp mình vì trẻ khuyết tật rất có thể làm ảnh hưởng theo chiều hướng giảm chất lượng học tập và sinh hoạt của lớp mình. Từ phân tích trên đây khi tiến hành khảo sát công tác GDHN trẻ khiếm thính liên quan đến qúa trình dạy học, xin

được nêu lên những vấn đề sau:

Một: Mọi trẻ đều có thể học được, tất cả mọi trẻ khiếm thính cũng đều có thể học được. Trẻ khiếm thính, do  hạn chế khiếm khuyết về thính lực và ngôn ngữ gây nên có thể sẽ mất nhiều thời gian trong việc lĩnh hội một đơn vị kiến thức, số lượng đơn vị kiến thức ít hơn và mức độ khó của kiến thức sẽ thấp hơn so với trẻ bình thường, nhưng vẫn có thể học được.
Hai: Bên cạnh việc học các kiến thức thì trẻ khiếm thính cũng cần phải học tất cả các kỹ năng xã hội khác mà trẻ bình thường học và sử dụng đặc biệt là những kỹ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp ứng xử...Điều này nhăm giúp trẻ đạt được mức độ cao nhất của sự độc lập trong hoạt động cá thể, cộng đồng và là thành viên tích cực của xã hội sau này.
Ba: Quá trình nhận thức của trẻ khiếm thính cũng tuân theo qui luật nhận thức chung của con người. Vì vậy, ngay sau khi trẻ được phát hiện có khuyết tật, cần tiến hành ngay công tác lập kế hoạch hỗ trợ dạy học và hỗ trợ giáo dục đặc biệt nhằm hạn chế đến mức tối đa những ảnh hưởng tiêu cực do khuyết tật gây nên và phát huy điểm tích cực trong các lĩnh vực phát triển của trẻ. Công việc này càng được tiến hành sớm càng tốt.
Bốn: Việc dạy học cho trẻ khiếm thính không chỉ đơn thuần là công việc của người giáo viên với các giờ học ở nhà trường, trong lớp học. Dạy học cho trẻ khuyết tật còn do những “thày giáo” quan trọng khác thực hiện ở những môi trường khác nhau như cha mẹ hay những người trực tiếp chăm sóc trẻ tại gia đình, bạn bè trẻ tại khu vực cộng đồng nơi trẻ khuyết tật sống…
Năm: Mỗi trẻ khuyết tật, cả khuyết tật khiếm thính là khác nhau về tất cả các lĩnh vực phát triển nhận thức, tâm lí - tình cảm, ngôn ngữ - giao tiếp, hành vi…Dạy học và giáo dục trẻ khuyết tật phải luôn luôn gắn liền và thống nhất với nhau. Việc dạy học cần phải dựa vào chương trình giáo dục cá nhân. Chương trình này cần được xây dựng trên cơ sở nhu cầu, khả năng của trẻ, phù hợp với ý kiến về giáo dục của cha mẹ trẻ, nhu cầu và khả năng của gia đình trẻ. Kế hoạch dạy học cho từng trẻ khuyết tật được xây dựng và thực hiện dựa trên chương trình giáo dục cá nhân này.

Từ những ngày tháng khó khăn ban đầu dò dẫm với việc hỗ trợ hoà nhập cùng kết quả đạt được, Tôi cùng đồng nghiệp đã rút ra được kinh nghiệm muốn chia sẻ: Mặc dù khiếm thính gây ra những trở ngại nhất định cho trẻ trong hoạt động nhận thức học tập cũng như giao tiếp, song cũng chính điều này lại là yếu tố kích thích các em vươn lên phía trước, làm xuất hiện xu hướng mong muốn và sức mạnh vượt qua trở ngại khuyết tật:  muốn nghe tất cả nếu như tai nó bị khiếm khuyết; muốn nói nếu như nó gặp khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ

 

KẾT QUẢ THỐNG KÊ ĐÁNH GIÁ SỰ PHỐI HỢP

GDHN TRẺ KHIẾM THÍNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂKLĂL

 

Năm

HSHN

Trung tâm &

Trường có HSHN

Trường HN

& Phụ huynh

Số lần hỗ trợ
/năm/HS

 

 

Tốt

Chưa P.H

Tốt

Chưa P.H

2005-2006

24

14

10

12

12

2-3

2006-2007

30

22

8

16

14

2-3

2007-2008

38

24

14

20

18

3-4

2008-2009

45

40

5

41

4

3-4

2009-2010

40

36

4

30

10

9

2010-2011

58

55

3

40

18

9-10

3.1. Thực trạng công tác giáo dục hòa nhập  trẻ khiếm thính

Hòa nhập không chỉ đơn giản là đưa trẻ trẻ khiếm thính vào trong một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường. Phải thiết lập những bước rõ ràng để đảm bảo cho trẻ được tham gia một cách đầy đủ và tích cực những hoạt động trong lớp học. Việc thiết lập những bước rõ ràng là vai trò của các giáo viên. Nếu những nhu cầu đặc biệt được phát hiện và đáp ứng trong thời gian này, trẻ khuyết tật sẽ có cơ hội tốt hơn để trở nên những người trưởng thành tháo vát và độc lập. Những trẻ khuyết tật có được cơ hội cùng chơi với những trẻ khác trong lớp học hỏi  được nhiều hơn về chính bản thân chúng cũng như thái độ về việc nhân nhượng lẫn nhau diễn ra mỗi ngày. Đó là một trong những bước đầu tiên để phát triển  tính độc lập. Bằng cách tham gia những lớp học hòa nhập ở trường bình thường cùng với đội ngũ giáo viên hiểu cách ứmg dụng những kĩ thuật và hoạt động giáo dục, trẻ với những nhu cầu đặc biệt sẽ có cơ hội thuận lợi thực sự trong việc hiện thực hóa tiềm năng dồi dào của mình. Để trẻ khuyết tật tham gia học hòa nhập tốt cần có các điều kiện hỗ trợ vật chất để thực hiện: cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực mới đạt được các mức độ hòa nhập. Trước mắt công tác GDHN trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng ở tỉnh Đăklăk còn đang gặp phải những thách thức lớn:

- Phần lớn giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục chưa được đào tạo về giáo dục trẻ khuyết tật, đặc biẹt là giáo dục trẻ khiếm thính, do đó chưa thể dạy trẻ khuyết tật khiếm thính một cách có hiệu quả cao.

- Công tác GDHN đã triển khai nhưng chưa được thực hịên trên diện rộng, chưa là nhiệm vụ chính thức của đơn vị,cá nhân nào và vì thế, phần lớn trẻ khiếm thính đi học mà chưa qua CTS, khi học hòa nhập còn nhều vấn đè về thông tin, về định kiến nên chưa được hỗ trợ tích cực.

- Gia đình trẻ khiếm thính trên địa bàn tỉnh, phần lớn có điều kiện kinh tế khó khăn, ở những xã vùng sâu, xa của tỉnh nên ít và không được tư vấn hướng dẫn hỗ trợ chăm sóc, dạy dỗ trẻ khiếm thính học.

- Các trường hòa nhập không có đủ năng lực, nhân lực để đánh giá và xác định nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ để đáp ứng tốt các nhu cầu đó.

-Vấn đề hỗ trợ và hợp tác từ phía cộng đồng chưa thể hiện rõ để phát triển có một mạng lưới hỗ trợ GDHN. Hợp tác giữa Trung tâm và các bên liên quan trong ngành giáo dục còn chưa thành nề nếp, phân công nhiệm vụ chưa rõ ràng

- Trung tâm Hỗ trợ phát triển GDHN trẻ khuyết tật vẫn đang là mắt xích quan trong trong mạng lưới: các trường vệ tinh, với lực lượng chính là các giáo viên hỗ trợ cấp tỉnh và cấp huyện, ít nhất là ở bậc học MN và TH của chỉ ngành giáo dục. Trong khi sự khác biệt lớn nhất là các trường nội trú: chăm lo cho học sinh;  trong khi Trung tâm tham mưu chăm lo cho tất cả trẻ em khuyết trong địa bàn toàn tỉnh, từ việc hỗ trợ giáo viên và phụ huynh của các em, hỗ trợ học sinh khuyết tật a học hòa nhập. Giáo viênV trung tâm hỗ trợ chuyên môn cho gv GDHN, ai hỗ trợ chuyên môn cho GV trung tâm.

- Hoạt động chuyên môn tại các trường chuyên biệt đã có sự quan tâm của các phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện. Từng đơn vị đã chủ động trong việc điều chỉnh nội dung chương trình dựa trên kết quả đánh giá cá nhân học sinh qua kết quả học tập và rèn luyện. Đặc biệt trong năm học vừa qua, các trường đã thực hiện phối hợp với Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật đồng bộ để định hướng các họat động chuyên môn. Các trường đã thực hiện một số công việc như sau: Đã thực hiện tốt việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cá nhân cho từng trẻ, giúp trẻ khuyết tật từng bước hòa nhập được với môi trường sinh hoạt tập thể.

- Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong việc giáo dục trẻ khuyết tật và về khả năng phát triển của trẻ khuyết tật khi được giáo dục, trong đó có cả cha mẹ, cán bộ giáo dục và

giáo viên của các trường.

-  Các lớp hòa nhập trong trường tiểu học đã được quan tâm nhiều hơn, tạo môi trường học tập tốt cho các em. Tuy nhiên, do sĩ số học sinh đông, một số giáo viên chưa có kinh nghiệm nên trẻ còn chưa được quan tâm tốt.
Cơ sở vật chất cho giáo dục trẻ khuyết tật còn kém về chất lượng và thiếu về số lượng, chủng loại. Các cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật chưa có những trang thiết bị tối thiểu cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như sách giáo khoa và đồ dùng dạy học đặc thù cho từng loại trẻ khuyết tật.
- Ban giám hiệu, giáo viên các trường có tinh thần trách nhiệm, quan tâm giúp đỡ theo dõi quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi trong việc đánh giá và xếp lọai kết quả học tập

của học sinh học hòa nhập.

- Việc hối hợp tốt với phụ huynh học sinh trong công tác chăm sóc, giáo dục, đảm bảo thông tin hai chiều giữa nhà trường với gia đình và ngược lại chưa đạt theo mong muốn và mục đích của GDHN.
- Hiện tại chế độ ưu đãi dành cho học sinh khiếm thính học hòa nhập như: miễn, giảm học môn hát nhạc, tiếng Anh... Chưa được lưu ý nhất là ở các trường THCS

- Giáo dục trẻ khuyết tật khiếm thính có nguy cơ không thể duy trì và phát triển ổn định trong giai đoạn tới khi không được đầu tư chỉ đạo địnhhướng kịp thời.

- Cơ chế chính sách về giáo dục trẻ khuyết tật chưa đủ để bảo đảm cho việc xây dựng, quản lý và phát triển hệ thống giáo dục trẻ khuyết tật. Các dịch vụ hỗ trợ đồng bộ chưa bảo đảm những điều kiện phù hợp sự tham gia của trẻ khuyết tật trong hệ thống giáo dục quốc dân; công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật chưa hợp lý và kém hiệu quả, thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của các cấp quản lý. Những vấn đề về thực hiện và lý luận chưa được nghiên cứu, tổng kết, đánh giá một cách đúng mức. Bất cập này đã dẫn đến mâu thuẫn.

Về công tác hướng dẫn chuyên môn dạy trẻ khuyết tật, Trung tâm hiện tách hẳn một đội chuyên hỗ trợ hòa nhập gồm 5 giáo viên có kinh nghiệm trong công tác hỗ trợ GDHN nhưng thiếu phương pháp giảng dạy định hướng của ngành giáo dục về giáo dục học sinh khuyết tật, thì chất lượng học tập của học sinh hòa nhập ở các  trường khó ổn đinh theo hướng tích cực một khi lực lượng hỗ trợ này bàn giao trẻ khiếm thính hẳn cho trường (các em được hỗ trợ tốt nhất qua tiết cá nhân định kỳ.)

Bên cạnh đó, hàng tháng trường Việc hỗ trợ và tổ chức kiểm tra trợ thính cho học sinh khiếm thínhchưa làm được.             
Học sinh iếm thính chưa được các giáo viên quan tâm, giảng dạy phù hợp với đặc điểm khuyết tật và tạo điều kiện cho  các em hòa nhập, trẻ thiếu tự tin khi học hòa nhập (nhiều trường hợp) chưa ý thức được tầm quan trọng trong việc giáo dục hòa nhập, tin tưởng vào nhà trường.

3.2 Đề xuất một số biện pháp

3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền để phát hiện sớm tật khiếm thính

Bằng những phương tiện thông tin đại chúng như: phát tờ rôi, đài truyền hình, sách báo...chúng ta tuyên truyền cho cha mẹ trẻ khiếm thính và cộng đồng biết về công tác GDHN.

a)Xếp trẻ khiếm thính vào các lớp học phù hợp và giáo dục học sinh  lòng yêu thương, giúp đỡ người khuyết tật;

b) Tư vấn, hỗ trợ cho các cơ sở giáo dục, gia đình và cộng đồng về chăm sóc, giáo dục cho người khuyết tật;

c) Phát hiện khả năng và nhu cầu của trẻ khiếm thính, lập kế hoạch, huy động và tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia học hòa nhập;
d) Thực hiện hoạt động hỗ trợ về can thiệp sớm, giáo dục, phục hồ chức năng phát triển kỹ năng cơ bản, hướng nghiệp, dạy nghề cho người khuyết tật; tổ chức hoạt động chăm sóc và cung cấp các kỹ năng cơ bản, cần thiết cho người khuyết tật trước khi vào học tại các lớp hòa nhập;
e) Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục về người khuyết tật cho các cơ sở giáo dục và gia đình;
f) Huy động nguồn lực của cộng đồng, các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho công tác can thiệp sớm và chăm sóc, giáo dục cho trẻ khuyết tật trong đó có trẻ khiếm thính.Tập trung xây dựng tốt môi trường giao tiếp cho học sinh, tích cực chủ động cho trẻ tham gia các hoạt động tham quan, dã ngoại ngoài việc học tập.

Tiếp tục thực hiện hồ sơ cá nhân để chuẩn bị tốt cho trẻ trước khi chuyển lớp, chuyển cấp học, giúp mỗi trẻ  phát triển theo đúng thế mạnh của chúng, phụ huynh và giáo viên cần nhìn thấy và hiểu được các cách thức theo đó trẻ sẽ học tốt nhất. Các nhà giáo dục cũng cần cố gắng cung cấp một môi trường học tập mà mọi trẻ em cảm thấy thích thú và thành công.

g) Đảm bảo thực hiện quyền lợi của người khuyết tật học hòa nhập theo điều 19 luật người khuyết tật Việt Nam:

1. Tuổi của người khuyết tật đi học có thể cao hơn tuổi của người học khác theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và được quan tâm giúp đỡ để có thể học hòa nhập.

2. Được học tập trong các cơ sở giáo dục phù hợp với trình độ, năng lực; được tôn trọng và bảo vệ, đối xử bình đẳng trong học tập, trong các hoạt động văn hóa, thể thao để phát triển khả năng cá nhân; được xét miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp khác; được cung cấp thông tin; được cấp sách giáo khoa, học phẩm, học bổng theo quy định.

3. Được miễn giảm một số môn học không thể đáp ứng do tình trạng khuyết tật gây nên, tùy từng trường hợp cụ thể Hiệu trưởng và Giám đốc sở giáo dục và đào tạo quyết định việc miễn giảm một số môn học cho người khuyết tật để tăng cường học tập các môn mà người học có khả năng đáp ứng tốt và được xét lên lớp hoặc chuyển học tiếp ở lớp cao hơn dựa trên các môn được học.

4. Người khuyết tật có nhu cầu hỗ trợ đặc biệt, được bố trí tiết dạy cá nhân ngoài khác hoạt động chung trong lớp học hòa nhập dành cho người khuyết tật.

5. Được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng tuyển sinh vào các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và được tạo điều kiện học tập phù hợp với khả năng đáp ứng tốt nhất.

6. Người khuyết tật có thành tích trong học tập, rèn luyện được tuyên dương, khen thưởng.

 

3.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có chuyên môn về công tác GDHN

Tăng cường công tác đào tạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn về GDHN. Đối với những giáo viên có chuyên môn thường xuyên mở các đợt tập huấn để nâng cao kiến thức cho họ để có biện pháp giáo dục trẻ tốt hơn.

3.2.3. Nâng cao nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề chăm sóc - giáo dục trẻ khiếm thính

Mở các đợt tập huấn, tư vấn về vấn đề chăm sóc - giáo dục trẻ khiếm thính để cho cha trẻ có thể tham gia. Tuyên truyền những kiến thức về công tác GDHN cho cha mẹ trẻ biết thông qua sách báo, phát tờ rơi, qua đài báo…

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Trẻ khiếm thính là những trẻ chịu nhiều thiệt thòi nhất trong tất cả các trẻ. Các em gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống nhất là vấn đề giao tiếp.

Đa số các bậc cha mẹ trẻ khiếm thính đã có nhận thức đúng đắn về tật điếc của con mình và có tinh thần trách nhiệm cao về vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ .

Phần lớn cha mẹ trẻ khiếm thính rất có kì vọng về chương trình hòa nhập. Qua một thời gian tham gia chương trình nhiều cha mẹ trẻ đã thấy được hiệu quả mà chương trình đem lại cho trẻ. Họ đã bắt đầu tin tưởng vào khả năng phát triển của trẻ.

Hiệu quả công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật khiếm thính chưa cao. Do nhiều nguyên nhân: do cha mẹ trẻ chưa có kiến thức về chương trình này, chưa dành nhiều thời gian để hợp tác với giáo viên hỗ trợ hòa nhập, với các trường phổ thông trong quá trình hướng dẫn giúp trẻ hòa nhập tại cộng đồng,  do sự hợp tác của trẻ,…

Công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật khiếm thính ở Đăklăk thực sự chưa được triển khai rộng rãi. Nhiều trẻ khiếm thính.

Giáo dục trẻ tại gia đình chưa cao, cha mẹ trẻ chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDHN, chưa có kiến thức về tật điếc của con mình. Vì vậy, để công tác GDHN có hiệu quả thì các nhà giáo dục và chính quyền địa phương phải mở rộng các chương trình và có các biện pháp can thiệp hiệu quả đối với trẻ khiếm thính giúp cho trẻ có cơ hội phát triển tối đa khả năng các em có em có thể.

2. Khuyến nghị

* với ngành giáo dục và đào tạo:

- Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có chuyên môn về giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng. Thường xuyên tổ chức các đợt tập huấn về kiến thức, kỹ năng giáo dục hòa nhập, hỗ trợ hòa nhập trẻ khiếm thính...

- Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trên địa bàn tỉnh, trung tâm, các trường có học sinh khuyết tật học hòa nhập..

- Để thực hiện được những mục tiêu đó,công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật của tingr cần có những giải pháp lớn đó trên cơ sở xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn và chỉ đạo tập trung về giáo dục trẻ khuyết tật. Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục trẻ khuyết tật. Phát triển hệ thống hỗ trợ giáo dục hà nhập trẻ khuyết tật. Nâng cao năng lực quản lý giáo dục trẻ khuyết tật và tăng cường sự phối hợp liên ngành trong chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật.

- Các cơ sở giáo dục tùy theo điều kiện cụ thể để bố trí các lớp học hòa nhập phù hợp với trẻ khiếm thính, các hoạt động trong lớp cần chú ý quan tâm tới khả năng và nhu cầu của trẻ.

- Mỗi lớp hòa nhập dành cho trẻ khuyết tật ở các bậc học từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông có nhiều nhất không quá ba người khuyết tật cùng một loại tật.

- Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của đội ngủ giáo viên và người làm công tác hỗ trợ GDHN trong áp dụng công tác chuyên môn giáo dục đặc biệt, qua đó hướng dẫn cách thực hiện giao tiếp với trẻ có khó khăn về ngôn ngữ bằng hình ảnh và sách giao tiếp Hoạt động này nhằm phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ có khó khăn về ngôn ngữ đồng thời góp phần làm phong phú hơn cho tư liệu của trung tâm.

- Tạo hứng thú cho HS có động lực đến trường và học ở trườngcủa trẻ khiếm thính, giảm bớt những tác động tiêu cực về mặt giáo dục đối với các học sinh khácbằng chương trình và phương pháp giảng dạy thống nhất , phù hợp.

Cần cam kết chung của Giám đốc Trung tâm(đơn vị chuyên biệt) và hiệu trưởng( đơn vị hòa nhập) để đáp ứng nhu cầu của học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt,- giúp xác định cách phối hợp giữa hai trường nhằm đáp ứng nhu cầu của học sinh có nguy cơ chống đối hay bất mãn. 2 trường cùng chiea sẻ nguồn lực và hòa nhập học sinh từ cả hai trường từ cơ sở của mình. Có giáo viên làm việc ở cả hai trường, và việc trao đổi thông tin liên lạc được thực hiện tốt hơn( có nhóm HS được dạy riêng biệt vào một ngày trong tuần, được học hòa nhập một số bộ môn thể thao hoặc khác với trường.....và các kỹ năng xã hội bên ngoài nhà trường.

Riêng các nhà quản lý trường học lưu ý: Giáo viên của trường hòa nhập có trẻ khiếm thính học hòa nhập cần được đào tạo để có khả năng nhận thức tốt hơn những nhu cầu tình cảm của trẻ. Giáo viên trường chuyên biệt phải là giáo viên giỏi có kỷ năng tốt trong việc giảng dạy và sáng tạo. Phải hiểu được những phong cách học tập khác nhau, và các nhu cầu giáo dục đặc biệt khác nhau giữa các học sinh có ảnh hưởng như thế nào đối với việc học tập của trẻ khiếm thính( yêu cầu đầu tiên quan trọng là kỷ năng sư phạm để dạy trẻ có nhu cầu đặc biệt, ở đây là trẻ khiếm thính, tiếp theo mới là kiến thức chuyên môn.)- Các  nhà quản lý phải biết điều chỉnh các tiêu chí về chương trình, cần đảm bảo môi trường và tạo điều kiện học hỏi từ đồng nghiệp trong trường chuyên biệt, được hỗ trợ liên tục, khuyến khích sự phối hợp và linh hoạt

Cần chỉ đạo và đồng ý cho chủ trương xây dựng từ điển ký hiệu giao tiếp  trẻ khiếm thính giúp các em tham gia học và hòa nhập tốt hơn.

*Đối với chính quyền địa phương:

- Phối hợp hỗ trợ khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ khuyết tật ở các trường, các cơ sở giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật.

- Tăng cường công tác tuyên truyền cho cha mẹ trẻ khiếm thính và cộng đồng địa phương biết về tật khiếm thính. Từ đó có biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ phù hợp.

- Kêu gọi, vận động các tổ chức nhân đạo từ thiện tài trợ quĩ học bổng, quỉ khen thưởng, hỗ trợ các điều kiện phục vụ học văn hoá, học nghề, hỗ trợ các phương tiện phục vụ đời sống sinh hoạt của trẻ khiếm thính.

- Thực hiện Quyền về cơ hội giáo dục trẻ khuyết tật, theo Chỉ thị số 01-2006/CT-TTg, ngày 6-1-2006 của Thủ tướng Chính phủ. Đào tạo, giúp trẻ khuyết tật có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng và được trợ giúp để phát triển tối đa tiềm năng, tham gia và đóng góp tích cực cho xã hội.

Qua kết quả nghiên cứu thực tế và hoạt động trải nghiệm công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính trên địa bàn của tỉnh, các hoạt động mang lại trong quá trình thực hiện trong các năm học từ 2005 đến nay. Thiết nghĩ, để tiếp tục triển khai, điều chỉnh nội dung phù hợp hơn, đồng thời nâng cao chất lượng triển khai tốt công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính , trong thời gian tới rất cần sự hỗ trợ quan trọng của lực lượng Giáo viên các trường có học sinh hòa nhập, của nhân viên hỗ trợ, sự phối hợp tích cực của quản lý các trường cũng như cha mẹ trẻ khiếm thính, trobg đó sự năng động sáng tạo của các em học sinh khiếm thính trong qúa trình học tập của mình trong môi trường hòa nhập rất quan trọng.

Để tổ chức được và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục hỗ trợ Trẻ khuyết tật, nhất là trẻ khiếm thính học hòa nhập trong các trường phổ thông chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến trao đổi thiết thực của các nhà quản lý, các thầy cô, rất mong được nhận các ý kiến quý báu.    Qua kết quả nghiên cứu thực tế và hoạt động trải nghiệm công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính trên địa bàn của tỉnh, các hoạt động mang lại trong quá trình thực hiện trong các năm học từ 2005 đến nay. Thiết nghĩ, để tiếp tục triển khai, điều chỉnh nội dung phù hợp hơn, đồng thời nâng cao chất lượng triển khai tốt công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính , trong thời gian tới rất cần sự hỗ trợ quan trọng của lực lượng Giáo viên các trường có học sinh hòa nhập, của nhân viên hỗ trợ, sự phối hợp tích cực của quản lý các trường cũng như cha mẹ trẻ khiếm thính, trobg đó sự năng động sáng tạo của các em học sinh khiếm thính trong qúa trình học tập của mình trong môi trường hòa nhập rất quan trọng.

Để tổ chức được và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục hỗ trợ Trẻ khuyết tật, nhất là trẻ khiếm thính học hòa nhập trong các trường phổ thông chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến trao đổi thiết thực của các nhà quản lý, các thầy cô, rất mong được nhận các ý kiến quý báu.

 

Buôn Ma Thuột, ngày 15 tháng 2 năm 2011

NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN

 

 

 

 

Nguyễn Thị Thoa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1/ Kỷ yếu hội nghị khoa học, (2002), Khoa giáo dục đặc biệtTrường Đại học    Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

2/  Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính, (2001),trường ĐHSP Hà Nội Hà Nội

3/ Bộ sách ngôn ngữ ký hiệu - Hà Nội - 1998 Trung tâm nghiên cứu và phát triển giáo dục chuyên biệt - Việt chiến lược và chương trình giáo dục.

4/ Bộ sách ngôn ngữ ký hiệu của trẻ khiếm thính (3 tập) 2003

5/ Những vấn đề giao tiếp và giáo dục người điếc, ngôn ngữ ký hiệu - Tổ giáo dục trẻ khiếm thính - Khoa Giáo dục Đặc biệt - ĐHSP Hà Nội
6/ Những cách thức lựa chọn phương thức tiếp cận trong giao tiếp với người khiếm thính - W.Lynus

7/Tâm lý trẻ khiếm thính GS.TS Nguyễn Quang Uẩn

8/Một số trang wed về giáo dục:

http://www.niesac.edu.vn,http://đăklăk.edu.vn

MỤC LỤC:

TÓM TẮT

MỞ ĐẦU

1.                 Lý do chon đề tài

2.                 2. Mục đích nghiên cứu

3.                 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.                 Giả thuyết khoa học

5.                 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.                 Phạm vi nghiên cứu

7.                 Phương pháp nghiên cứu

KẾT QỦA NGHIÊN CƯÚ

1.                    Cơ sở lí luận

1.1                Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2                 Lợi ích của “ Giáo dục hoà nhập

1.3                  Một số vấn đề chung về trẻ khiếm thính

1.3.1                Nguyên nhân gây ra khiếm thính

1.3.2                Đặc điểm tâm lí của trẻ khiếm thính

1.3.3                Đặc điểm phát triển thính giác và ngôn ngữ của trẻ khiếm thính

1.4              GDHN cho trẻ khiếm thính tại các trường phổ thông

1.4.1                Vai trò và trách nhiệm của giáo viên trong GDHN

1.4.2                Nội dung hỗ trợ hoà nhập trẻ khiếm thính

1.4.3                Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thính

2. Thực trạng công tác giáo dục hòa nhập trẻ khiếm thính tại Đăklăk:

3.Kết quả quá trình khảo sát.

3.1. Thực trạng công tác giáo dục hòa nhập  trẻ khiếm thính

3.2 Đề xuất một số biện pháp

3.2.1. Tăng cường công tác tuyên truyền để phát hiện sớm tật khiếm thính

3.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có chuyên môn về công tác GDHN

3.2.3. Nâng cao nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề chăm sóc - giáo dục trẻ khiếm thính

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

2. Khuyến nghị

* với ngành giáo dục và đào tạo:

Add comment


Security code
Refresh

Giao lưu - Chia sẻ

Ảnh đẹp

  • 2.gif
  • 21.gif
  • 22.gif
  • 23.gif
  • 24.gif
  • 25.gif
  • 26.gif
  • 27.gif
  • 28.gif
  • 29.gif
  • 30.gif
  • cc.gif
  • cc1.gif
  • cc2.gif
  • cc3.gif
  • cc4.gif
  • cc5.gif
  • cc6.gif
  • cc7.gif
  • cc8.gif

Thống

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay95
mod_vvisit_counterHôm qua226
mod_vvisit_counterTuần này1038
mod_vvisit_counterTuần trước1441
mod_vvisit_counterTháng này4272
mod_vvisit_counterTháng trước5302
mod_vvisit_counterTất cả307653

Online (20 minutes ago): 7
Your IP: 54.81.76.147
,
Now: 2014-10-23 13:46